Thứ Tư, 7 tháng 9, 2022

Quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam

 Ở Việt Nam, các quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận của công dân luôn được Đảng, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm. Trong đó phải kể đến quyền tự do ngôn luận từ bản Hiến pháp đầu tiên, các văn kiện của Đảng. Các bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định và hiện thực hóa quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để đảm bảo thực hiện quyền tự do ngôn luận trong thực tế cuộc sống và không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và ANQG, TTATXH. Quốc hội, Chính phủ và các Bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhất là việc tự tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, ý kiến của mình đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trên không gian mạng, cụ thể là Luật Báo chí năm 2016; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; Luật An ninh mạng năm 2018; Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 về “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng”; Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2022 về “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử”; trong đó đã quy định rõ mọi hành vi như đăng tải, phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân... đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. (trích báo CA)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét