Thứ Năm, 20 tháng 2, 2025

Không để người dân đứng ngoài “cuộc chiến” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Không để người dân đứng ngoài “cuộc chiến” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Không để nhân dân đứng ngoài “cuộc chiến” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là vấn đề có ý nghĩa cấp bách trước mắt, mà còn là giải pháp chiến lược, cơ bản, lâu dài để nhân lên sức mạnh tổng lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong sự nghiệp giữ gìn, bảo toàn vị thế cầm quyền, vai trò lãnh đạo của Đảng và bảo vệ những thành quả cách mạng vĩ đại của dân tộc ta dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng.

1. Lịch sử dân tộc ta đã đúc rút ra một bài học kinh nghiệm có tính quy luật: Thời kỳ nào, vương triều nào được dân tin, dân theo, dân đồng lòng, dốc sức thì hưng thịnh; ngược lại, thời kỳ nào, vương triều nào làm mất lòng dân thì sụp đổ. Nhiều bài học điển hình đã được ghi lại trong sử sách, như: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước” (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn) và “Lật thuyền mới biết sức dân như nước” (Nguyễn Trãi)... Còn nếu đi ngược lòng dân, khiến dân oán hận thì sẽ dẫn đến thất bại nhanh chóng, như trường hợp Nhà Hồ gây nên thảm họa lớn, làm mất nước, rơi vào tay giặc ngoại xâm.

Không để người dân đứng ngoài “cuộc chiến” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta. Ảnh: chinhphu.vn

Trên cơ sở sự kế thừa tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong lịch sử dân tộc và quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò to lớn của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng. Người khẳng định: “Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” và mỗi khi “dân khí mạnh thì binh lính nào, súng ống nào cũng không chống lại được”. Đó là một minh chứng tiêu biểu thể hiện niềm tin vào sức mạnh của nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận một cách khoa học và phát triển ở tầm cao mới.

2. Hiện nay, các thế lực phản động, thù địch ra sức phủ nhận, chống phá, xuyên tạc, hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua âm mưu “diễn biến hòa bình”, chúng ra sức hạ bệ nền tảng tư tưởng của Đảng, ly gián mối quan hệ đoàn kết máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Trong thời đại công nghệ số và bùng nổ thông tin, các thế lực thù địch lợi dụng triệt để internet và mạng xã hội để xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng. Trên trang thông tin tiếng Việt của một số cơ quan truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam và một số trang mạng YouTube, Twitter, Facebook của các tổ chức "Việt Tân", "Tiếng dân", "Hội anh em dân chủ"... thường sử dụng những thông tin, sự kiện có thật nhưng được chỉnh sửa, ngụy tạo, bóp méo, đánh tráo nhằm hô hào tụ tập đông người phản đối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động dư luận, gây mất an ninh, trật tự xã hội; tuyên truyền phá hoại tư tưởng, kích động tâm lý hoài nghi với chính quyền, thổi bùng bức xúc trong nhân dân, đồng thời cổ xúy các luận điệu dân chủ, nhân quyền cực đoan, không phù hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam.

3. Phát huy truyền thống quý báu của dân tộc và tư tưởng Hồ Chí Minh về dựa vào nhân dân để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và thành tựu của công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn xác định “dân là gốc”, “nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới”. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định, cần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng và bảo vệ Đảng.

Đảng ta luôn coi trọng phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy nguồn lực từ nhân dân để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vì nhân dân là “tai mắt” của Đảng trong xây dựng và bảo vệ Đảng. Nhân dân có vai trò như “tấm khiên” kiên cố, vững chắc, góp phần đấu tranh phản bác, đẩy lùi các quan điểm sai trái, thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng và mục tiêu, sự nghiệp cách mạng của Đảng.

Để phát huy vai trò của nhân dân trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, trước hết cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể quần chúng (đoàn thanh niên, hội phụ nữ, liên đoàn lao động, hội nông dân, hội cựu chiến binh) từ Trung ương đến cơ sở. Đa dạng hóa các hình thức tổ chức và phương thức tập hợp, vận động nhân dân; tổ chức các hội, nhóm, câu lạc bộ trong các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Các tổ chức đoàn thể quần chúng ở cơ sở với số lượng đoàn viên, hội viên đông đảo, giàu lòng yêu nước, yêu quê hương, nhiệt tình, trách nhiệm, sẵn sàng tham gia các hoạt động xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Do đó, các cấp ủy, tổ chức đảng ở địa phương cần khơi dậy, phát huy tiềm năng, sức mạnh to lớn của các tổ chức đó để góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng từ cơ sở.      

Chú trọng chăm lo làm tốt công tác vận động quần chúng, giữ yên lòng dân. Giữ được lòng dân chính là giải pháp căn cơ để dân tin Đảng, chính quyền, tin cán bộ, từ đó nhân dân luôn có ý thức cảnh giác, kiên quyết không nghe theo các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực xấu. Ý nghĩa sâu xa hơn, chính niềm tin và sự đồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ tạo nên sức mạnh đồng thanh, đồng lòng, góp phần tham gia đẩy lùi, làm thất bại các luận điệu sai trái, chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Quan tâm giáo dục, truyền bá tư tưởng của Đảng đến với người dân bằng nhiều hình thức và phương pháp đa dạng, phù hợp với từng đối tượng, làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu những vấn đề cơ bản về bảo vệ Đảng, làm cơ sở để nhận diện được các luận điệu sai trái và biết cách tham gia đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Đặc biệt coi trọng giáo dục thế hệ trẻ nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tin tưởng và ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng.

Làm tốt công tác định hướng dư luận. Để định hướng được dư luận đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ chuyên trách ở mỗi địa phương có đủ cả tâm, tầm, tài, trách nhiệm chính trị cao. Họ vừa phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, bản lĩnh chính trị vững vàng, vừa có nhãn quan chính trị sắc bén, tiếp nhận thông tin chính thống để xử lý, cung cấp thông tin cho phù hợp với đối tượng ở địa phương; đồng thời nắm bắt diễn biến tâm trạng, tư tưởng và dư luận nhân dân để kịp thời tác động, định hướng một cách phù hợp, hiệu quả, mang lại lợi ích tối đa cho sự nghiệp chung. 

Trong công tác thông tin tuyên truyền cần coi trọng phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”; tăng cường quảng bá, lan tỏa cái hay, cái tốt trong đời sống xã hội. Hiện nay, sự phát triển ồ ạt của các trang mạng xã hội kéo theo nhiều nguy cơ nan giải. Thông tin trên các mạng xã hội rất đa chiều, phức tạp, đan xen cả tích cực và tiêu cực. Do vậy, sau khi nhận diện, phân loại đúng-sai, tốt-xấu, hay-dở, các cấp ủy, tổ chức đảng và đoàn thể quần chúng cần hướng dẫn, động viên, khích lệ người dân tích cực tham gia tương tác, chia sẻ, lan tỏa những thông tin tích cực, tiến bộ, nhân văn; đồng thời chủ động đấu tranh, ngăn chặn, loại bỏ những thông tin xấu độc, sai trái, gây hại cho Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Có thể khẳng định rằng, việc không để nhân dân đứng ngoài “cuộc chiến” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là vấn đề có ý nghĩa cấp bách trước mắt, mà còn là giải pháp chiến lược, cơ bản, lâu dài để nhân lên sức mạnh tổng lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong sự nghiệp giữ gìn, bảo toàn vị thế cầm quyền, vai trò lãnh đạo của Đảng và bảo vệ những thành quả cách mạng vĩ đại của dân tộc ta dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đại tá, TS NGUYỄN VĂN KÝPhó chủ nhiệm khoa Lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Hậu cần

Không để người dân đứng ngoài “cuộc chiến” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Lật tẩy âm mưu cổ xúy thuyết “vũ khí luận” nhằm chống phá Quân đội - Bài 1: Vạch rõ bản chất phản khoa học của thuyết “vũ khí luận”

 

Lật tẩy âm mưu cổ xúy thuyết “vũ khí luận” nhằm chống phá Quân đội - Bài 1: Vạch rõ bản chất phản khoa học của thuyết “vũ khí luận”

Thuyết “vũ khí luận” xét về bản chất là tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí, trang bị, xem nhẹ nhân tố con người cũng như nhân tố chính trị tinh thần, hướng đến xây dựng quân đội chuyên nghiệp phi chính trị.

Nếu sa vào thuyết “vũ khí luận” sẽ làm mất ý chí, quyết tâm chiến đấu của quân đội, điều đó hết sức nguy hiểm. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh chống thuyết “vũ khí luận” của các thế lực thù địch là một trong những nhân tố quan trọng góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao sức mạnh tổng hợp, sức mạnh chiến đấu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng để xuyên tạc, chống phá Quân đội, đưa ra những quan điểm sai trái, trong đó có thuyết “vũ khí luận” mà bản chất là tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí, trang bị, xem nhẹ nhân tố con người. Thuyết “vũ khí luận” là một phần của âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, phản động.

Nguyên nhân ra đời của thuyết “vũ khí luận”

Trong cuốn sách “Bàn về chiến tranh” (xuất bản năm 1832) của nhà lý luận quân sự Đức Carl von Clausewitz (1780-1831), bên cạnh những quan điểm khoa học, tiến bộ nhất định, ông đã đưa ra quy luật thực hiện thắng lợi mục tiêu và biện pháp chiến đấu bằng sức mạnh của vũ khí.

Luận điểm của Clausewitz đã trở thành nền tảng cho các luận điểm quân sự tư sản sau này, tuyệt đối hóa điều kiện vật chất, vũ khí, trang bị, quy sức mạnh quân sự vào số lượng, chất lượng vũ khí, từ đó hạ thấp vai trò nhân tố con người, biến con người thành vật phụ thuộc vào vũ khí. Từ đó, họ đưa ra quan điểm xây dựng quân đội nhà nghề, quân đội chuyên nghiệp phi chính trị hóa.

Thực chất của quan điểm tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí là coi nhẹ yếu tố con người, coi nhẹ tính chính trị của quân đội để bao che, ngụy biện cho mục đích chính trị của các cuộc chiến tranh xâm lược, đánh lừa nhận thức người dân, phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản về kinh tế, chính trị trong các cuộc chiến tranh gắn với tư bản hiếu chiến, hám lợi ích vật chất, coi nhẹ sinh mạng con người.  

Sự ra đời của nhiều loại vũ khí công nghệ cao được nghiên cứu, thiết kế, chế tạo dựa trên những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, có sự nhảy vọt về chất lượng và tính năng kỹ thuật, chiến thuật, hoạt động trong điều kiện địa hình, thời tiết phức tạp như bom hạt nhân siêu chính xác, robot chiến trường, máy bay không người lái, tàu ngầm... Những đặc điểm mới ưu việt của vũ khí công nghệ cao và hiệu quả của nó trong những cuộc chiến tranh gần đây đã làm cho quan điểm “vũ khí luận” tư sản có cơ hội “tái sinh”. Thuyết “vũ khí luận” cho rằng, trong chiến tranh, vũ khí có vai trò quyết định, bên nào sở hữu vũ khí hiện đại, tối tân sẽ giành chiến thắng.

Lật tẩy âm mưu cổ xúy thuyết “vũ khí luận” nhằm chống phá Quân đội - Bài 1: Vạch rõ bản chất phản khoa học của thuyết “vũ khí luận”
Ảnh minh họa / qdnd.vn 

Về lý luận, quan điểm “vũ khí luận” là phản khoa học, chứa đựng nhiều mâu thuẫn khi không giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến tranh. Nó thể hiện sự bế tắc chính trị, khi chỉ thấy sức mạnh, ưu thế trên lý thuyết của vũ khí mà lờ đi nguồn gốc tạo ra vũ khí chính là con người, sử dụng và điều khiển vũ khí cũng là con người.

Về thực tiễn, vũ khí trong tay tư sản trở thành hàng hóa siêu lợi nhuận, không chỉ đem lại những món hời khổng lồ mà còn đem lại những lợi thế chính trị to lớn. Vì thế, chủ nghĩa đế quốc không ngại kích động chiến tranh để thúc đẩy buôn bán vũ khí.

Từ đó, có thể kết luận rằng thuyết “vũ khí luận” không chỉ sai lầm mang tính ngẫu nhiên của một cá nhân hoặc một nhóm người mà là sai lầm gắn liền với chủ nghĩa tư bản, xuất phát từ bản chất lợi ích của chế độ tư bản chủ nghĩa và sự phản động của chủ nghĩa đế quốc.

Sự nguy hại của thuyết “vũ khí luận”

Qua nghiên cứu có thể thấy được nguồn gốc, bản chất, những biểu hiện cụ thể và những hạn chế, bất lực của thuyết “vũ khí luận” được thể hiện trên những phương diện cụ thể sau:

Thứ nhất, trong chiến tranh, con người và vũ khí có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó con người là yếu tố quyết định. Bởi theo quan điểm của triết học mác-xít, con người sáng tạo ra công cụ và sử dụng công cụ ấy để sáng tạo ra đời sống xã hội. Con người vừa là chủ thể tạo ra vũ khí, vừa điều khiển, định hướng, kiểm soát mọi quá trình sử dụng vũ khí. Vũ khí, phương tiện hiện đại đến đâu cũng có điểm yếu, cũng cần phải có con người sáng tạo và điều khiển nó. Vũ khí chỉ là một phần tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến đấu, phải được kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn, linh hoạt và sáng tạo của các yếu tố cơ bản, đó là: Con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật quân sự... Trong đó, con người là yếu tố chủ thể, có vai trò quyết định đến kết quả trận đánh.

Lênin đã viết: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường. Lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh đời mình cho hạnh phúc của những người anh em, là yếu tố nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quan điểm “người trước, súng sau” nhằm khẳng định vai trò quyết định của con người trong chiến tranh. Bác Hồ viết: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”. Bởi lẽ, con người trong hoạt động quân sự là lực lượng toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang là nòng cốt. Bác nhấn mạnh: “Không thể cậy vũ khí mà có thể quyết định được thắng lợi. Phải xem những người cầm vũ khí có phải là những chiến sĩ hăng hái đánh trận không”.

Bên cạnh đó, tính chất khó khăn, phức tạp, quyết liệt, nguy hiểm vốn có của môi trường quân sự như điều kiện địa hình, thời tiết, sự tấn công của đối phương làm tăng sự cản trở việc sử dụng vũ khí trong chiến tranh, cho nên con người quyết định hiệu quả thực tế của vũ khí. Như vậy, hiệu quả thực tế của vũ khí trong chiến tranh không chỉ phụ thuộc vào tính năng, kỹ, chiến thuật của vũ khí mà yếu tố quyết định vẫn là con người bằng trí tuệ, ý chí khắc phục khó khăn trong tác chiến, động cơ, mục đích sử dụng vũ khí. Ngược lại, vũ khí cũng có vai trò quan trọng, là phương tiện để vô hiệu hóa đối phương nhanh và hiệu quả trên chiến trường. Tuy nhiên, con người điều khiển vũ khí cần phải có mục tiêu, lý tưởng và bản lĩnh chính trị vững vàng, chắc chắn.

Thứ hai, kinh nghiệm thực tiễn từ hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 của quân và dân ta đã để lại những bài học vô cùng quý báu về phát huy sức mạnh con người Việt Nam trong sử dụng vũ khí thô sơ, kém hiện đại để đánh thắng vũ khí hiện đại của địch. Đối mặt với kẻ thù được trang bị vũ khí tối tân, hiện đại bậc nhất lúc bấy giờ (trừ vũ khí hạt nhân) nhưng chúng ta vẫn giành chiến thắng. Đây chính là biểu hiện cao nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh và là nét độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam, huy động được mọi nguồn lực, sức mạnh chính trị, tinh thần của quân và dân ta trong kháng chiến cứu nước với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”, “Cả nước ra quân, toàn dân đánh giặc”, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Để đánh bại vũ khí hiện đại cùng những thủ đoạn xảo quyệt và tàn bạo của địch, quân và dân ta không những dũng cảm, kiên cường mà còn thông minh, sáng tạo, từng bước chế tạo và cải tiến vũ khí, phù hợp với con người, điều kiện và môi trường tác chiến ở Việt Nam. Đúng như lời Bác Hồ từng khẳng định: “Tuy khí giới ta còn kém, kinh nghiệm ta còn ít, nhưng lòng kiên quyết, chí hy sinh của tướng sĩ ta đã lập những chiến công oanh liệt, vẻ vang, có thể nói là kinh trời động đất”. 

Bài học về chính thể cầm quyền của một số quốc gia trên thế giới gần đây bị thất bại cho thấy mặt trái của thuyết “vũ khí luận”. Vào những năm đầu của thế kỷ 21, một số nước trên thế giới đã trang bị vũ khí khá hiện đại cho những người lính, thậm chí trang bị đến cả người dân. Nhưng khi bị đối phương đánh phủ đầu thì người ta thấy, nhiều loại vũ khí, trang bị hiện đại đã bị những người lính bỏ lại trên đường phố, dẫn đến sự thất bại trong cuộc chiến và chính thể của các nước đó đã bị lật đổ hoàn toàn.

Trung tá HUỲNH HIẾU THANH, Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh

(còn nữa)

* Mời bạn đọc vào chuyên mục Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng xem các tin, bài liên quan. 

Suy diễn chủ quan, phiến diện - mảnh đất màu mỡ của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

 

Suy diễn chủ quan, phiến diện - mảnh đất màu mỡ của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Ở cơ quan, đơn vị hay trong đời sống, chúng ta có thể bắt gặp những người chuyên chắp nối các sự việc, hiện tượng riêng lẻ mà họ nắm bắt được để từ đó suy diễn, hình thành nên câu chuyện mang màu sắc của “thuyết âm mưu”. Suy diễn như vậy luôn tạo ra sự ngờ vực, mất đoàn kết, mất niềm tin, là mảnh đất màu mỡ của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Nhận diện suy diễn chủ quan

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Suy diễn là suy ra điều này, điều nọ một cách chủ quan”. Nghĩa là trước một vấn đề, một sự kiện nào đó nổi cộm hoặc liên quan đến quyền lợi của một người, họ sẽ nhìn nhận, suy đoán, phán xét, hướng lái vấn đề theo quan điểm cá nhân. Như vậy, các vấn đề, sự kiện, nội dung suy diễn sẽ bị chi phối bởi lợi ích và trình độ nhận thức của người suy diễn.              

Tiếp cận theo góc độ đó thì suy diễn là hoạt động tâm lý âm thầm diễn ra trong tư tưởng của một con người. Sau một quá trình suy diễn, họ thường có xu hướng tìm những người đồng cảm, nhóm đồng cảm, nhóm chung để chia sẻ, cùng bình luận về vấn đề đang được bản thân họ “mổ xẻ”. Như vậy, suy diễn có thể diễn ra trong suy nghĩ, nhận thức, tư tưởng của một cá nhân; cũng có thể diễn ra trong nhóm chung, trong nhóm người cùng sở thích, trong câu lạc bộ với nhau để thể hiện ý kiến, thái độ, bình luận, chia sẻ của mình đối với những vấn đề mà cá nhân và nhóm đang quan tâm.

Suy diễn chủ quan, phiến diện - mảnh đất màu mỡ của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Những vấn đề mà con người có thể suy diễn rất đa dạng, phong phú. Ảnh minh họa: truyenthongtre.vn

Mỗi ngày, con người thường chịu tác động của nhiều thông tin trong công việc, cuộc sống, vì vậy có hàng nghìn suy nghĩ về nhiều vấn đề. Do đó, những vấn đề mà con người có thể suy diễn cũng rất đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, thường con người hay suy diễn tập trung vào những vấn đề mang tính nổi cộm trên các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội hoặc vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến quyền lợi của bản thân.

Những vụ việc “nổi cộm”, “chấn động” thường thu hút sự chú ý và suy diễn, như vấn đề cán bộ giữ các trọng trách ở Trung ương, địa phương bị kỷ luật, bị xử lý hình sự vì tham nhũng, tiêu cực, vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống; chính sách A, quy định B đang dự thảo để ban hành; doanh nghiệp A, doanh nghiệp B phát triển “khủng”; tình hình chính trị - xã hội, vấn đề an ninh, an toàn; vấn đề nhân sự cán bộ trong bộ máy hệ thống chính trị, nhất là trước kỳ đại hội đảng... Hẹp hơn có thể là vấn đề liên quan đến nhân sự cán bộ trực tiếp ở cơ quan, đơn vị; vấn đề khen thưởng; kỷ luật nội bộ; chế độ, chính sách; mối quan hệ đoàn kết nội bộ...

Nếu như các lực lượng thù địch suy diễn rồi đơm đặt các vấn đề dẫn tới nhiễu loạn thông tin, thật giả lẫn lộn, tạo hỏa mù chỉ là sự tác động từ bên ngoài đến đối tượng người nghe, người xem, người tiếp nhận thông tin thì suy diễn lại chịu tác động kép, nó vừa diễn ra ngay trong chính bản thân của một người, vừa chịu tác động của những thông tin nhiều chiều từ bên ngoài xoay quanh vấn đề đó. Vì vậy, nguy cơ tiềm ẩn lớn hơn và nguy hiểm hơn là khi bản thân họ tin, hành động theo suy diễn của chính mình và được cộng hưởng bởi những thông tin nhiễu loạn khác.

Trước một sự kiện, một nhiệm vụ, một vấn đề, một vụ việc nổi cộm nào đó, nếu con người có bản lĩnh, biết cách suy nghĩ theo chiều hướng tích cực sẽ rất tốt. Ngược lại, sẽ rất nguy hiểm nếu trong tư tưởng của họ diễn ra quá trình suy diễn theo chiều hướng tiêu cực. Vì đó chính là khi người suy diễn tự đưa bản thân vào vòng xoáy của vấn đề tiêu cực, dẫn tới luẩn quẩn, hoài nghi, hoang mang, lung lay niềm tin, chính mình tạo ra “mảnh đất màu mỡ” cho “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nếu không kịp thời tỉnh ngộ. Kế tiếp, nguy hiểm hơn là sự lan tỏa những suy nghĩ tiêu cực, những bình luận, những đánh giá vấn đề thiếu căn cứ, thiếu lập luận, thiếu kiểm chứng ấy cho nhiều người khác, gây ra “hiệu ứng” dây chuyền, mức độ ảnh hưởng rộng hay hẹp tùy thuộc vào vị thế xã hội của người suy diễn.

Hậu quả nguy hại

Bắt đầu từ sự hoài nghi hoặc tò mò về những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, vấn đề nội bộ, do thiếu định hướng và bị chi phối bởi quan điểm cá nhân nên người suy diễn chủ quan sẽ đi càng ngày càng xa bản chất của vấn đề. Càng suy diễn càng tò mò, càng mông lung, rơi vào vòng luẩn quẩn không biết đâu là điểm dừng. Điều đó dễ dẫn tới sự ngụy biện, quy kết, thậm chí phát ngôn mang tính áp đặt, định kiến, thiếu ý thức xây dựng. Chẳng hạn từ vấn đề phòng, chống tham nhũng, vấn đề vi phạm kỷ luật, pháp luật của một số cán bộ các cấp, người suy diễn có thể sẽ “mổ xẻ” thêm những vấn đề như hiệu quả quy hoạch, sử dụng, phát hiện đội ngũ cán bộ; truy trách nhiệm công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ thuộc về ai, tổ chức, cá nhân nào; thậm chí cố tình quy chụp vấn đề đó là mất đoàn kết, đấu đá phe cánh, thanh trừng nội bộ...

Suy diễn này rất nguy hiểm, bởi đó là lối suy nghĩ vấn đề theo hướng tiêu cực, áp đặt cá nhân, thiếu định hướng. Khi những vấn đề, những suy nghĩ mang tính áp đặt cá nhân đó được chia sẻ sẽ nhanh chóng lan ra và tác động đến nhận thức, tư tưởng của những người khác trong nhóm, rồi từ nhóm này lan sang nhóm khác. Chớp cơ hội này, các thế lực thù địch sẽ cóp nhặt, thêu dệt, khoét sâu thậm chí tìm cách tương tác, bình luận theo hướng “thêm dầu vào lửa”, kích động nếu đó là những vấn đề nhạy cảm, nhất là vấn đề chính trị.

Như vậy, từ sự suy diễn trong tư tưởng một người vô tình tiếp tay, “nối giáo cho giặc”, tạo cho chúng thêm cơ hội để lợi dụng chống phá chế độ. Sự tác động ngược trở lại của những người trong nhóm và lực lượng thù địch, chống phá khiến người suy diễn tiếp tục suy diễn vấn đề theo hướng tiêu cực hơn, khi đến giới hạn nào đó sẽ dẫn tới phát ngôn, hành động để thể hiện hoặc bảo vệ quan điểm của mình. Lúc này, người suy diễn bắt đầu bước sang một giai đoạn mới, đó là quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Cần làm gì để phòng, chống suy diễn chủ quan, phiến diện

Để ngăn ngừa hiện tượng suy diễn chủ quan trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân thì cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng. Theo đó, cần làm tốt công tác giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, tạo sự thống nhất, đồng thuận trong xã hội, trong tổ chức đối với sự nghiệp cách mạng. Đây là vấn đề căn cốt để từng con người trong xã hội, trong tổ chức nhìn nhận khách quan, đúng định hướng các vấn đề.

Trên cơ sở được tuyên truyền, giáo dục, định hướng, mỗi người phải tự mình nâng cao nhận thức, bản lĩnh, trách nhiệm chính trị, chủ động suy nghĩ có trách nhiệm với các vấn đề nảy sinh, từ đó tạo ra “bộ lọc” ngay trong chính mỗi người. Còn việc tạo “bộ lọc” trong môi trường xã hội, môi trường công tác là trách nhiệm thuộc về cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị.

Trọng tâm là làm tốt công tác theo dõi, tổng hợp, sàng lọc thông tin, phát hiện sớm những vấn đề nổi cộm của dư luận, những âm mưu, thủ đoạn chống phá, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch, từ đó kịp thời định hướng nhận thức chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân... Đồng thời thông qua nhiều kênh để cung cấp thêm thông tin, những minh chứng xác đáng, minh bạch về các vấn đề mà dư luận quan tâm, các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi cá nhân. Đối với tổ chức, cần tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, kịp thời phát hiện những tư tưởng, nhận thức lệch lạc trong mỗi cá nhân, trong từng nhóm để có giải pháp định hướng, khắc phục phù hợp, ngăn chặn sự suy diễn trước khi nó chuyển sang giai đoạn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Đại tá, TS PHÙNG MẠNH CƯỜNG, Chủ nhiệm Bộ môn, Khoa Kinh tế chính trị học Mác - Lênin, Học viện Chính trị

“Bệnh lãnh đạo”

 

“Bệnh lãnh đạo”

Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy Nhà nước được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của hệ thống chính trị. Tuy nhiên, ở một số cơ quan, đơn vị, “bệnh lãnh đạo” vẫn tồn tại như một căn bệnh mãn tính, không chỉ làm giảm sút hiệu quả công việc mà còn ảnh hưởng đến đoàn kết nội bộ, gây ra bức xúc trong dư luận về sự chậm trễ, kém hiệu quả.

“Bệnh lãnh đạo” là gì?

“Bệnh lãnh đạo” thực chất là những người lãnh đạo thiếu năng lực, thiếu phẩm chất, không đủ tư duy và khả năng để đưa ra những quyết sách đúng đắn, điều hành công việc hiệu quả. Những người mắc “bệnh lãnh đạo” thường thể hiện sự bảo thủ, trì trệ, thiếu quyết đoán, không chịu lắng nghe ý kiến của cấp dưới và quần chúng nhân dân. Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, những người lãnh đạo mắc bệnh chủ quan, duy ý chí, không sát dân, thiếu năng lực, không chịu học hỏi và cải tiến công tác sẽ gây hậu quả nghiêm trọng: “Làm việc phải có kế hoạch, phải chú ý đến tình hình, phải biết lắng nghe và sửa chữa những sai lầm của mình... Nếu lãnh đạo mà chỉ chăm chăm vào lợi ích cá nhân, mà không chú ý đến lợi ích của dân, của đất nước, thì dù có giỏi, có tài đến đâu cũng chẳng làm nên trò trống gì”.

Biểu hiện rõ nét của “bệnh lãnh đạo” qua 3 yếu tố: Năng lực, trách nhiệm và đạo đức. Trong đó, năng lực lãnh đạo yếu kém là biểu hiện dễ nhận thấy nhất. Những người cán bộ thiếu năng lực không thể xây dựng kế hoạch, quyết sách đúng đắn; thiếu khả năng phân tích, đánh giá tình hình; thiếu sự nhạy bén trong công tác lãnh đạo, dẫn đến tình trạng công việc trì trệ, không thực hiện được mục tiêu đề ra. Thiếu trách nhiệm trong công tác lãnh đạo là một biểu hiện nghiêm trọng của “bệnh lãnh đạo”. Người cán bộ không nhận thức đầy đủ về vai trò và trách nhiệm của mình, thường xuyên đùn đẩy, né tránh hoặc không chủ động giải quyết công việc; khiến công việc trì trệ, gây ra những hậu quả lâu dài cho tổ chức và xã hội.

“Bệnh lãnh đạo”
Ảnh minh họa. Nguồn: tuyengiao.vn 

Thực tế đã và đang cho thấy, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống không chỉ tiềm tàng ở một nơi nào đó mà nó hiện diện tại không ít nơi, không chỉ ở một vài người hay nhóm người nào đó mà đáng lo ngại là, hiện diện khá rộng và phức tạp trong một bộ phận đáng kể, nhất là đối với đội ngũ lãnh đạo. Những biểu hiện này hết sức phức tạp, tinh vi, dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau; từ không giữ vững được bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực trực tiếp gây tổn hại đến vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu và uy tín chính trị của Đảng, chức năng, vai trò và trọng trách quản lý, điều hành của Nhà nước và sức mạnh của hệ thống chính trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hệ lụy của “bệnh lãnh đạo”

Những hệ lụy mà “bệnh lãnh đạo” gây ra là vô cùng lớn, không chỉ làm suy giảm hiệu quả công tác lãnh đạo mà còn gây tổn hại trực tiếp đến sự phát triển của đất nước, đánh mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Xin dẫn chứng một ví dụ: Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ, từ đầu năm 2016 đến nay, có đến 8/88 trạm thu phí trên cả nước gặp phải sự phản đối của người dân, trong đó nhiều dự án bị đình trệ hoặc phải điều chỉnh do thiếu sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời, sát sao từ các cấp lãnh đạo. Chính biểu hiện chủ quan, nóng vội, bảo thủ, quan liêu của “bệnh lãnh đạo” đã đưa đến quyết định sai lầm, không phù hợp thực tiễn, gây thiệt hại lớn về kinh tế, giảm sút niềm tin của nhân dân. Theo Báo cáo của Đoàn Giám sát Quốc hội về thực hiện chính sách, pháp luật về tiết kiệm và chống lãng phí trong giai đoạn 2016-2021 cho thấy nhiều dự án đầu tư công với quyết định chậm chạp, thiếu minh bạch đã dẫn đến sai phạm, gây thất thoát gần 32.000 tỷ đồng. Những con số này phần nào phản ánh chất lượng, hiệu quả còn thấp kém của công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội.

Một hệ lụy khác của “bệnh lãnh đạo” là sự suy giảm niềm tin của nhân dân vào chính quyền. Những vụ án tham nhũng liên tiếp bị phanh phui đã làm dấy lên sự hoài nghi trong công chúng về sự minh bạch và trách nhiệm trong công tác lãnh đạo. Những vụ việc này không chỉ làm xói mòn niềm tin của người dân mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của Đảng và Nhà nước, gây bức xúc đối với nhân dân, tạo dư luận xấu trong xã hội. Bên cạnh đó, “bệnh lãnh đạo” còn gây hệ lụy lớn đối với quá trình phát triển kinh tế-xã hội, tạo “khe hở” cho tham nhũng, gây lãng phí, thất thoát tài sản của Nhà nước, của nhân dân. 

Hiện nay, quá trình thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy, “bệnh lãnh đạo” đã và đang bộc lộ những ảnh hưởng tiêu cực, gây khó khăn lớn cho tiến trình thực hiện chủ trương, biểu hiện rõ nét nhất là sự “ngại thay đổi”, thiếu quyết liệt và lúng túng trong lãnh đạo, chỉ đạo. Điều này không chỉ làm chậm tiến độ thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy mà còn gây lãng phí nguồn lực, làm mất thời cơ “vươn mình” của cả dân tộc. Ở những thời điểm “nước sôi lửa bỏng” nhưng khi được hỏi về quá trình đã giải quyết công việc đến đâu, có đồng chí cán bộ vẫn trả lời rằng: “Chưa thấy cấp dưới trình lên”. Người lãnh đạo không chỉ đợi trình lên mà trong những hoàn cảnh cụ thể phải xắn tay vào việc. Có như vậy, việc mới nhanh, mới thông và người cán bộ mới xứng đáng là công bộc của dân.

Kiên quyết loại bỏ tình trạng “bệnh lãnh đạo” hiện nay

Để loại bỏ “bệnh lãnh đạo” trong bộ máy Nhà nước, trước hết cần nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người đứng đầu các cấp về vai trò và trách nhiệm của bản thân. Đồng thời, người lãnh đạo phải thường xuyên tu dưỡng, tự chỉnh đốn mình, tự khép mình vào kỷ luật một cách toàn diện và triệt để, tự biết xấu hổ khi không chấp hành kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, không hoàn thành nhiệm vụ và tự giác từ nhiệm, từ chức khi bản thân không xứng đáng với vị trí đảm nhiệm.

Song song với đó, cần xây dựng một đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu công tác trong tình hình mới, trong đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần được thực hiện một cách có hệ thống, khoa học và hiệu quả. Các chương trình đào tạo cần gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng địa phương, đơn vị. Việc bồi dưỡng không chỉ chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn mà còn phải đặc biệt coi trọng rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thông qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng, những cán bộ yếu kém về năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cần được đào thải, trái lại, những người có năng lực, phẩm chất tốt cần được khuyến khích phát triển, tạo cơ hội thăng tiến.

Để giải quyết triệt để "bệnh lãnh đạo", một giải pháp then chốt là tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt định kỳ và bất thường trong toàn hệ thống chính trị. Quán triệt quan điểm: Không ai, không một tổ chức nào được nằm ngoài sự kiểm tra, giám sát, kỷ luật và pháp luật. Các cơ chế kiểm tra cần được triển khai một cách chặt chẽ, công khai, minh bạch, bảo đảm  tính khách quan và hiệu quả. Những cán bộ lãnh đạo là đảng viên hư hỏng, thoái hóa, biến chất thì một mặt, phải bị khai trừ ra khỏi Đảng; mặt khác, nhất định phải bị sa thải ra khỏi bộ máy công quyền; kết hợp chặt chẽ giữa chống “diễn biến hòa bình” với chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Cùng với đó, khắc phục tình trạng “chuyên quyền, độc đoán” và “quan liêu, xa dân” cũng là một biện pháp quan trọng trong loại bỏ “bệnh lãnh đạo”. Theo đó, cần tăng cường việc gần dân, sát dân của đội ngũ cán bộ lãnh đạo; phải thường xuyên lắng nghe, tiếp xúc và thấu hiểu những tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, từ đó kịp thời đưa ra các quyết sách sát thực tiễn, giải quyết hiệu quả những vấn đề bức xúc trong đời sống. Lãnh đạo các cấp cần tự ý thức rõ trách nhiệm, chủ động tháo gỡ khó khăn cho người dân, nâng cao hiệu quả công việc, đồng thời củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Đây chính là yếu tố quan trọng để xây dựng một bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh và thực sự phục vụ nhân dân.

Một vấn đề quan trọng, đó là thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình là một yêu cầu cấp thiết để phát hiện và khắc phục kịp thời những khuyết điểm trong công tác lãnh đạo. Đây là một trong những phương thức quan trọng để lãnh đạo các cấp nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đồng thời tự rèn luyện, nâng cao phẩm chất, năng lực lãnh đạo. Công tác phê bình và tự phê bình không chỉ giúp xây dựng đội ngũ lãnh đạo trong sạch, vững mạnh mà còn góp phần quan trọng trong việc duy trì kỷ luật, kỷ cương, gia tăng niềm tin của nhân dân về công tác lãnh đạo với Đảng, Nhà nước, góp phần phê phán, loại bỏ “bệnh lãnh đạo” hiện nay.

NGUYỄN TRỌNG TÀI, Học viện Chính trị

Để người trẻ không chệch hướng sáng tạo

 

Để người trẻ không chệch hướng sáng tạo

Thời gian gần đây, đời sống văn học-nghệ thuật (VHNT) xuất hiện khá nhiều tác giả trẻ được công chúng quan tâm, chú ý. Nhiều người bày tỏ lạc quan, kỳ vọng về sự bứt phá của thế hệ văn nghệ sĩ trẻ với những nhân tố xuất sắc. Để góp phần đưa VHNT nước nhà phát triển, hội nhập quốc tế đòi hỏi phải có sự nhận thức đúng đắn và chiến lược xây dựng, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ có đức, có tài, đấu tranh ngăn chặn nguy cơ chệch hướng...

Ý thức sáng tạo và tâm lý học đòi

Một nhà văn lão thành khá nổi tiếng ở phía Nam vừa chia sẻ với chúng tôi câu chuyện rất đáng suy ngẫm. Ông kể, có một tác giả trẻ nhờ ông viết lời giới thiệu cho cuốn sách sắp in. Vốn rất kỳ vọng và chờ đợi những nhân tố mới trong nghề, ngay khi nhận được bản thảo, ông đã dành thời gian đọc kỹ.

Theo cảm nhận của ông, đây là một cây bút có triển vọng. Cách tiếp cận đề tài, những góc nhìn hiện thực và các thao tác ngôn từ cho thấy tác giả là cây bút có nội lực, tác phẩm thể hiện những góc nhìn tươi mới, có tính phát hiện cao về hiện thực cuộc sống.

Nhưng khi đọc xong, ông thấy “gợn gợn” về một số chi tiết, nhân vật. Đáng chú ý là nhân vật người cha (dù chỉ là nhân vật phụ, đã qua đời, xuất hiện trong tác phẩm thông qua ký ức và lời thoại của những người con, người thân trong gia đình) được tác giả xây dựng là một sĩ quan ngụy quân, tử nạn trước ngày 30-4-1975.

“Nếu thay đổi thân phận nhân vật bằng một dạng khác như nông dân, ngư dân, người làm thuê... có đời sống vất vả, khổ cực thì nội dung tác phẩm cũng không bị ảnh hưởng gì. Tại sao lại phải “ấn” vào nhân vật cái “mác” lính ngụy để nói về cái khổ và nỗi đau thân phận trong khi nguồn cơn, bản chất của cái khổ, cái đau ấy không liên quan gì đến việc người cha có từng là lính ngụy hay không? Đưa một chi tiết văn học vào tác phẩm mà nó chẳng giúp ích gì, ngược lại còn có thể gián tiếp gây hại thì đó không phải là mục đích và thao tác sáng tạo của nhà văn. Những chi tiết đó cần phải sửa, bởi nếu để như vậy dễ tạo ra những suy diễn tiêu cực, tạo cớ cho các thế lực xấu lợi dụng bóp méo, xuyên tạc đời sống xã hội, nhất là trong lúc cả dân tộc đang hướng về đại lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tôi nói với cháu, nếu sửa thì tôi sẽ viết lời giới thiệu, còn không thì tôi đành phải từ chối...”, nhà văn cao niên bày tỏ.

Theo lời nhà văn thì sau khi được ông góp ý, tác giả trẻ đã lễ phép cảm ơn và nói sẽ tiếp thu để chỉnh sửa bản thảo.

Để người trẻ không chệch hướng sáng tạo
 Ảnh minh họa: doanthanhnien.vn

Những chuyện tương tự như câu chuyện nhà văn lão thành kể diễn ra không hiếm trong môi trường văn học-nghệ thuật. Trong giới chuyên môn, người ta thường gọi đó là kiểu sáng tác ám chỉ, bóng gió... lấy tình tiết văn chương, nghệ thuật để ám chỉ về chính trị hoặc chỉ trích, bôi xấu, hạ bệ cá nhân, tổ chức. Việc này đến từ hai nguyên nhân chủ yếu. Một là từ ý định, ý thức chủ quan của tác giả.

Đây là biểu hiện rất nguy hại, thể hiện sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của văn nghệ sĩ. Những người có lối tư duy, khuynh hướng sáng tác kiểu này cần được nhận diện từ sớm, từ xa để có biện pháp chấn chỉnh, đấu tranh. Khâu biên tập, kiểm duyệt, xuất bản cần phải làm chặt, không để lọt vào đời sống VHNT những tác phẩm có nội dung tư tưởng xấu độc, phương hại đến nền tảng tư tưởng của Đảng và lợi ích quốc gia, dân tộc.

Hai là từ sự vô ý thức, có tâm lý học đòi, muốn làm cho mới, cho lạ, cho khác người để được chú ý. Biểu hiện này dễ xảy ra ở một bộ phận người trẻ, khi bản lĩnh tư tưởng và trải nghiệm thực tiễn còn non, thiếu hụt vốn sống và cái phông văn hóa, trình độ lý luận chính trị còn hạn chế, kèm theo đó là tâm lý sính ngoại, bài nội, cổ xúy văn hóa lai căng...

Cùng với kiểu lấy VHNT ám chỉ chính trị, thực tiễn đời sống VHNT thời gian gần đây còn có những biểu hiện hư cấu thái quá làm sai lệch sự thật, làm méo mó các nhân vật lịch sử. Biểu hiện này có mấy dạng chủ yếu. Một là khai thác, hư cấu đời tư của các nhân vật nổi tiếng trong dân gian theo hướng “hài, nhảm”, khiến nhân vật bị méo mó, thậm chí trở nên dị dạng, dị biệt.

Hai là hư cấu, làm “biến dạng” các nhân vật lịch sử có công với nước, dẫn đến sai lệch về những sự kiện lịch sử. Ba là thổi phồng thành tích, công lao của một số nhân vật từng là tội đồ của dân tộc, biến họ thành “vĩ nhân”. Đây là những biểu hiện của “tẩy sử”, “lật sử”, làm cho công chúng, nhất là giới trẻ hiểu sai lệch về lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước, kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc...

Dù xuất phát từ nguyên nhân nào và biểu hiện ở hình thức nào thì khi người trẻ sáng tạo theo hướng này sẽ dễ trở thành đối tượng bị các phần tử cực đoan, bất mãn và các thế lực thù địch lợi dụng, tác động, lôi kéo. Nguy cơ chệch hướng trong đời sống VHNT là hiện hữu, nguy hại khó lường...

Giúp người trẻ không bị chệch hướng

Những biểu hiện chệch hướng trong tư duy, tư tưởng sáng tạo VHNT không phải hiện nay mới diễn ra mà đã được Đảng ta chỉ ra và cảnh báo từ lâu. Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã đặt ra yêu cầu: Đồng thời “xây” phải đi đôi với “chống” những tư tưởng, hành vi, sản phẩm văn hóa lệch lạc, sai trái, lạc hậu, phản động... Nâng cao tính chiến đấu, chống mọi mưu toan lợi dụng văn hóa để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “đổi màu”...

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ đã chỉ rõ một trong những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống là: Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước...

Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Đảng ta đã thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, tồn tại trong lĩnh vực văn hóa, VHNT: Chưa coi trọng đúng mức và có biện pháp tích cực để giữ gìn, bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của dân tộc; nhiều khi bắt chước nước ngoài một cách lố lăng, phản cảm, không có chọn lọc (nói nặng ra là vô văn hóa, phản văn hóa)...

Như vậy, để nhận diện, phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện chệch hướng, “đổi màu” trong lao động sáng tạo của văn nghệ sĩ, nhất là người trẻ, không hề là việc dễ dàng. Cảm thụ, thẩm định tác phẩm VHNT là công việc thiên về cảm tính.

Để đi đến sự thống nhất về nhận thức, mục tiêu, khuynh hướng sáng tạo theo quan điểm của Đảng trong tư duy, tư tưởng sáng tạo của người trẻ hiện nay là vấn đề khó khăn, phức tạp. Ở tầm vĩ mô, chiến lược, Đảng ta đã có định hướng rõ ràng. Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 xác định: Đặc biệt chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ làm công tác văn hóa, VHNT. Đội ngũ này có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp văn hóa nói riêng và trong sự nghiệp cách mạng nói chung...

Giải pháp căn cơ, lâu dài, bền vững cho vấn đề này chính là công tác giáo dục-đào tạo, bồi dưỡng thế giới quan, nhân sinh quan. Đặc biệt là bồi dưỡng lý luận chính trị, đạo đức cách mạng cho nguồn nhân lực VHNT. Đây là sự nghiệp phải tiến hành thường xuyên, liên tục, tuyệt đối không được sao nhãng, coi nhẹ.

Thời gian gần đây, chúng ta tập trung đẩy mạnh các hoạt động sáng tác, quảng bá tác phẩm VHNT hướng đến những ngày lễ lớn của đất nước trong năm 2025. Việc xuất hiện thái độ ám chỉ, bóng gió, lấy VHNT để xuyên tạc lịch sử, đả kích chính trị, làm phương hại đến nền tảng tư tưởng của Đảng... không thể xem thường. Cùng với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác biên tập, xuất bản, kiểm duyệt... của các cơ quan chức năng; các tổ chức hội, đoàn cần đa dạng hóa các hình thức sinh hoạt, tọa đàm, giao lưu nghiệp vụ...

Người trẻ rất cần những sân chơi bổ ích để được tiếp nhận, trao truyền lửa nghề, ý thức chính trị trong lao động nghề nghiệp. Sứ mệnh của VHNT là bảo tồn tâm hồn, bản sắc dân tộc và trách nhiệm, bổn phận của văn nghệ sĩ là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, luôn biết đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết và trước hết. Đó cũng là môi trường, điều kiện sinh nở, nuôi dưỡng tác giả lớn và tác phẩm xuất sắc...

PHAN NGUYỄN