Thứ Tư, 7 tháng 8, 2024

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG 47 TRONG ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, với sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin, các thế lực thù địch đã lợi dụng không gian mạng để đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và quân đội ta. Trước tình hình đó, ngày 08/01/2016 Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đã ra Chỉ thị số 47-CT/TCCT Về tổ chức lực lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội (gọi tắt là lực lượng 47). Thời gian qua, lực lượng 47 trong toàn quân đã hoạt động đúng tôn chỉ mục đích, đạt hiệu quả cao, được Đảng, Nhà nước, Quân đội ghi nhận và đánh giá cao.

Lực lượng 47 ở các cơ quan báo chí Quân đội đã thành lập nhiều chuyên trang, chuyên mục phòng, chống “Diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kịp thời đăng tải hàng nghìn tin, bài viết đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đồng thời, chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý, bóc gỡ nhiều tin, bài viết, ảnh có nội dung phản cảm trên mạng internet. Lực lượng 47 của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã chủ động nghiên cứu nắm chắc âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, nắm chắc địa bàn; tích cực tổ chức đấu tranh với nhiều loại hình phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Nhiều cơ quan, đơn vị phát huy hiệu quả hoạt động của các trang, nhóm blog, kênh Youtube, tài khoản mạng xã hội… trong đấu tranh tư tưởng, lý luận trên không gian mạng. Hình thức đấu tranh chủ yếu là viết bài, xây dựng video clip phản bác lại các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch; bình luận, chia sẻ rộng rãi những bài viết có nội dung về đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, từ đó tạo hiệu ứng đấu tranh mạnh mẽ, tích cực trên không gian mạng. Với những thành tích đã đạt được, lực lượng 47 trong quân đội ngày càng khẳng địng rõ vai trò nòng cốt trong đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.

Trong thời gian tới, tình hình quốc tế và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen. Sau 35 năm đổi mới, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực và uy tín quốc tế như ngày nay. Tuy nhiên, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn, các thế lực thù địch, tổ chức phản động tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, cản trở sự phát triển của đất nước… Tình hình đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng 47 trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trải, thù địch, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Theo đó, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

1.Toàn quân tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tường của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; Chỉ thị số 47/CT-CT ngày 08/01/2016 của Tổng cục Chính trị về tổ chức lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội và các văn bản chỉ đạo của Trung ương, Quân đội, phù hợp với tình hình cũng như đặc điểm, nhiệm vụ hoạt động lực lượng 47.

2.Thường xuyên kiện toàn lực lượng 47 trong toàn quân, phù hợp với đặc thù nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị và địa bàn đóng quân. Phát huy tốt vai trò của các cơ quan báo chí, cơ quan nghiên cứu, nhóm chuyên gia trong viết bài đấu tranh chuyên sâu, tạo nguồn thông tin tích cực trên Internet, mạng xã hội. Tăng cường phối hợp giữa lực lượng 47 trong quân đội với cơ quan chức năng, địa phương để tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng

3.Các cơ quan chức năng của quân đội chủ động thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; kịp thời định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trước các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, làm cơ sở cho việc triển khai các hoạt động đấu tranh trên không gian mạng.

4.Thường xuyên duy trì, nâng cao hiệu quả hoạt động của các trang, nhóm, blog đã được thành lập. Chú trọng liên kết với các trang, nhóm, blog khác để tạo hiệu ứng lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng mạng xã hội. Quan tâm đầu tư với tận dụng phát huy nguồn lực đơn vị, bảo đảm cơ sở vật chất, trang bị, phương tiện kỹ thuật, kinh phí để phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.

DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRỞ THÀNH BIỂU TƯỢNG CỦA HẠNH PHÚC TOÀN CẦU

 Thứ nhất, lịch sử hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc khỏi ách xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975) bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam còn có các Đảng phái khác. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản, còn có hai đảng khác là Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mạng Đồng Minh Hội. Tuy nhiên, về thực chất lãnh đạo cách mạng Việt Nam vẫn chỉ có Đảng Cộng sản, còn hai đảng Việt Quốc và Việt Cách “theo đuôi Tưởng” không hề đứng về lợi ích dân tộc. Cho đến khi quân Tưởng rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng ra đi theo quân Tưởng, trên vũ đài chính trị chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Sau đó, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tồn tại hai đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Cả hai đảng này đều ủng hộ, thừa nhận vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sau này cũng tự nguyện giải tán. Như vậy, Việt Nam đã từng có chế độ đa đảng, nhưng chính lịch sử cách mạng và nhân dân Việt Nam đã phủ định. Vì thế, Điều 4, Hiến pháp năm 2013, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và cả xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Như vậy, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và toàn thể Nhân dân Việt Nam khẳng định, thừa nhận: “Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà không cần sự tồn tại của nhiều đảng, nhất thiết không cần và không thể chấp nhận đa đảng đối lập như các thế lực thù địch mong muốn”.

Thứ hai, thành tựu của sự nghiệp cách mạng sau gần 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định, Việt Nam đã đạt được những thành tựu vô cùng quan trọng và thật đáng tự hào trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh… được cộng đồng quốc tế ghi nhận, sức mạnh tổng hợp quốc gia tăng lên. Việt Nam được cả thế giới mến phục, coi là biểu tượng của sự ổn định chính trị, tinh thần chiến thắng đói nghèo, đề cao giá trị, nhân nghĩa trong thế kỷ XXI, chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Ngày 11/10/2022, với 145 phiếu ủng hộ, Việt Nam là một trong 14 thành viên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Điều đó, khẳng định uy tín và vị thế của Việt Nam trong thực hiện nhân quyền, bảo vệ nhân quyền không chỉ trong nước mà còn đối với cộng đồng quốc tế, được quốc tế khẳng định và thừa nhận. Theo Báo cáo Hạnh phúc Toàn cầu của Liên hợp quốc công bố, năm 2021 Việt Nam đứng thứ 79/149 trong bảng xếp hạng; năm 2022 Việt Nam đứng thứ 77/150 trong bảng xếp hạng, tăng 2 bậc so với năm 2021; năm 2023 Việt Nam đứng thứ 65/150 trong bảng xếp hạng, tăng 12 bậc so với năm 2022; năm 2024, Việt Nam đứng thứ 54/150, tăng 11 bậc so với năm 2023. Kết quả này, là sự thừa nhận của Liên hợp quốc, nên các thế lực thù địch không thể xuyên tạc. Vì vậy, cần khẳng định rằng, người dân Việt Nam ngày càng hạnh phúc, ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

 

Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành tựu đổi mới ở Việt Nam và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản ngày càng bộc lộ rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, đi ngược lại với Hiến pháp và nguyện vọng, lợi ích lâu dài, chính đáng của nhân dân Việt Nam. Mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn./.

ÂM MƯU THÂM ĐỘC CỦA KẺ PHẢN ĐỘNG SONG CHI

Lợi dụng các tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng để chống phá cách mạng là một trong những âm mưu, hoạt động thâm độc của các thế lực, thù địch, phản động. Bài viết: “Phật giáo Việt Nam và nguyên nhân gốc rễ của vấn đề” của Song Chi đăng trên “Bbc” là một trong số đó.

 

Lợi dụng việc một số chức sắc Phật giáo bị Giáo hội Phật giáo Việt Nam kỷ luật, như: Thích Chân Quang, Thích Trúc Thái Minh, Thích Nhuận Đức, Song Chi đã xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Việt Nam nói chung, Phật giáo nói riêng. Song Chi đã đánh đồng những người này với những tín đồ, chức sắc Phật giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”, vì họ đã “tích cực tham gia chính trị, hết lòng trung thành với đảng, với chế độ”. Từ đó, bài viết xuyên tạc Giáo hội Phật giáo Việt Nam “được nhà nước cộng sản lập ra để khống chế phật giáo trong nước, để đánh bóng bộ mặt nhà nước trên trường quốc tế” hay “phục vụ chế độ, phục vụ cho một số quan chức, chứ không phải để xiển dương đạo pháp đúng nghĩa”. Song Chi phiến diện cho rằng: “khi còn chế độ độc tài, khi chưa có tự do tôn giáo” thì tình trạng đó vẫn tiếp diễn, và đưa ra lời khuyên: “phải chấp nhận có những tổ chức Phật giáo khác nhau, nhiều hình thức tu khác nhau, chứ không phải bất cứ ai, tổ chức nào đứng bên ngoài hệ thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là ngăn cấm, đàn áp, tiêu diệt”. Thực chất của những luận điệu trên là xuyên tạc, hướng lái dư luận nhận thức sai lệch tự do tôn giáo ở Việt Nam. Thực tế đã bác bỏ những luận điệu trên.

Thứ nhất, những chức sắc Phật giáo bị kỷ luật vì họ đã vi phạm Hiến chương, giáo lý, giáo luật của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Bất kỳ tổ chức, dân tộc, quốc gia trên thế giới đều có luật lệ, pháp luật để quy định việc các tổ chức, cá nhân phải tuân thủ, thực hiện, nếu thành viên nào vi phạm đều bị tổ chức đó xử lý. Trong tôn giáo cũng vậy, mỗi một tôn giáo đều có giới luật, luật lệ riêng để quy định về những điều chức sắc, chức việc, tín đồ của mình được làm hay không được làm, qua đó khuyến khích con người làm lành, tránh dữ. Tại Điều 7, Chương II, Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam sửa đổi lần thứ VII tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IX năm 2023 ghi rõ: “Mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là hoằng dương Phật pháp, phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, phục vụ dân tộc, góp phần xây dựng hòa bình, an lạc cho thế giới”. Điều 11, Chương III cũng nhấn mạnh: “Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc lấy Đạo pháp làm mục tiêu tối thượng; Tăng Ni, Cư sĩ, Phật tử làm trung tâm; các thành viên tham gia tự nguyện, đoàn kết, hòa hợp, kính ngưỡng, phụng hành Giáo pháp, Giới luật và tuân thủ pháp luật Nhà nước”. Tại Khoản 2, Điều 82, Chương XIII quy định: “Thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam có hoạt động và hành vi làm tổn hại đến thanh danh, đến sự hòa hợp, đến quyền lợi của Giáo hội hoặc các thành viên của Giáo hội, phương hại đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đến hòa bình, độc lập, thống nhất của Tổ quốc, Giáo hội sẽ xử lý theo giáo luật và tùy mức độ vi phạm, Giáo hội sẽ đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, xử lý theo pháp luật”. Đối chiếu với các quy định trên, nếu chức sắc, tín đồ nào vi phạm, tùy theo mức độ mà sẽ bị tổ chức tôn giáo quản lý xử lý kỷ luật. Các chức sắc Phật giáo mà Song Chi đề cập trong bài viết đã vi phạm Hiến chương, giáo lý, giáo luật nên đã bị Giáo hội Phật giáo Việt Nam kỷ luật, chứ hoàn toàn không phải họ bị “ngăn cấm, đàn áp, tiêu diệt”.

 

Thứ hai, Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức duy nhất đại diện cho tăng ni, tín đồ phật tử Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước.

Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ những năm đầu Công nguyên. Trong quá trình du nhập và phát triển, Phật giáo đã chứng tỏ là một tôn giáo hòa bình, dung hợp với tín ngưỡng truyền thống của người Việt. Tinh thần Từ – Bi – Hỷ – Xả của Phật giáo đã giáo dục con người biết sống vị tha, hòa hợp, coi trọng bình đẳng và tiến bộ xã hội. Giáo lý của Phật giáo rất phù hợp với đạo đức xã hội ở Việt Nam. Phật giáo là môi trường hoặc tạo điều kiện cho các loại hình văn học, nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc… phát triển. Ở mỗi thời kỳ lịch sử, Phật giáo đều để lại những dấu ấn sâu đậm, thể hiện tinh thần gắn bó đồng hành cùng dân tộc, nhiều nhà sư đứng ra giúp đời, giúp nước được sử sách ghi nhận.

Tháng 11/1981, thể theo ý chí, nguyện vọng của tăng ni, tín đồ phật tử cả nước, Hội nghị Đại biểu Thống nhất Phật giáo đã được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội với sự tham dự của 168 đại biểu tăng ni, cư sĩ đại diện cho 9 tổ chức, hệ phái trong cả nước. Đại hội đã thống nhất thành lập một tổ chức chung của Phật giáo cả nước lấy tên là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam”, thông qua Hiến chương và đường hướng hoạt động “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”. Tuyệt đại đa số tăng ni đã tích cực góp phần xây dựng Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày một trưởng thành, khẳng định vị trí của mình trong lòng dân tộc. Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng nâng cao vị thế và uy tín thông qua việc mở rộng hoạt động giao lưu quốc tế, tích cực hỗ trợ hoạt động của Phật giáo Việt Nam ở nước ngoài, đăng cai và phối hợp tổ chức thành công 3 kì Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc VESAK tại Việt Nam (2008, 2014, 2019). Hoạt động từ thiện xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo, giảm bớt những khó khăn, gánh nặng cho cộng đồng, xã hội. Bên cạnh đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam còn tham gia nhiều hoạt động an sinh xã hội vì cộng đồng: xây cầu, đóng góp làm đường giao thông nông thôn, nuôi dưỡng và chăm sóc bệnh nhân nhiễm HIV – AIDS, hỗ trợ đồng bào bị thiên tai, dịch bệnh. Điều đó khẳng định những đóng góp xứng đáng của Phật giáo cho sự nghiệp cách mạng. Còn những tín đồ, chức sắc vi phạm Hiến chương, giáo lý, giáo luật chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”, chứ không phải là bản chất, “biến tướng, biến chất” của Giáo hội Phật giáo Việt Nam như Song Chi và đồng bọn xuyên tạc.

Như vậy, bài viết “Phật giáo Việt Nam và nguyên nhân gốc rễ của vấn đề” đã xuyên tạc, hướng lái dư luận nhận thức sai lệch về Phật giáo nói riêng, tự do tôn giáo ở Việt Nam nói chung. Chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác vạch trần và đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của chúng./.

HOẠT ĐỘNG TÍN NGƯỠNG VÀ HỘI ĐOÀN PHẢI TRONG VÒNG LUẬT PHÁP

 Vừa qua, tiếp tục lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, Vũ Hoàng Anh đã đăng bài viết: “Tín Ngưỡng & Hội Đoàn” trên trang “Quyenduocbiet”. Nội dung bài viết là những biện dẫn trái ngược quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo; cố tình kích động, đòi “tự do” hoạt động tín ngưỡng và hội đoàn ngoài vòng luật pháp. Bởi vậy, cần đấu tranh và khẳng định như sau:

Thứ nhất, ở mỗi quốc gia mọi hoạt động của các tổ chức xã hội trong đó có hoạt động tín ngưỡng, hội đoàn tôn giáo đều phải tuân thủ theo pháp luật. Làm việc theo hiến pháp và pháp luật là văn minh ở mỗi quốc gia. Các hoạt động tín ngưỡng, hội đoàn của tôn giáo cũng không ngoại lệ, nhất là các hoạt động đó không làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sự ổn định, phát triển xã hội. Công ước châu Âu, tại Điều 9 khẳng định: Quyền tự do thể hiện tôn giáo, tín ngưỡng của một người chỉ bị luật pháp giới hạn nếu điều đó là cần thiết trong một xã hội dân chủ, phục vụ an ninh công cộng, bảo vệ trật tự trị an, sức khỏe, chuẩn mực đạo đức chung hoặc các quyền và sự tự do của người khác.

 

Trên thực tế, ở bất cứ quốc gia nào, việc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động không đúng pháp luật, gây ảnh hưởng đến trật tự an ninh, ổn định xã hội, cản trở sự phát triển đất nước, ảnh hưởng đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác thì đều bị xử lý. Cảnh sát Mỹ vào năm 2012 đã bắt giữ 07 thành viên nhóm Hutaree (Hu-ta-ri) tự xưng là “chiến binh Thiên chúa giáo” vì có âm mưu chống lại chính quyền; Tòa án Tối cao Nhật Bản năm 2018 đã thi hành án tử hình đối với 06 thành viên giáo phái “Ngày tận thế” (Aum Shinrikyo) cùng thủ lĩnh là Giáo chủ Shoko Asahara do gây ra vụ tấn công bằng chất độc Sarin nhằm vào hệ thống tàu điện ngầm Tokyo và các tội ác khác. Điều đó cho thấy, luận điệu của Vũ Hoàng Anh cho rằng hoạt động tín ngưỡng, hội đoàn “Đi ngược lại chủ trương của đãng thì sẽ bị trù dập, bỏ tù” là không đúng, bởi vì: Ở Việt Nam, chỉ có những người, những hoạt động hội đoàn lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành các hoạt động vi phạm luật pháp mới bị xử lý.

Thứ hai, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn có chủ trương, chính sách và xử lý đúng đắn vấn đề tự do hoạt động tín ngưỡng, hội đoàn. Việt Nam không đưa ra giới hạn nào về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hiến pháp 2013 và Luật tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam đều khẳng định: Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Thực tiễn ở Việt Nam, các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, không bị phân biệt đối xử và chung sống đoàn kết, gắn bó đồng hành với dân tộc. Nhờ có sự quan tâm, tạo điều kiện của Đảng, Nhà nước Việt Nam nên đời sống tín ngưỡng, tôn giáo có nhiều biến đổi sâu sắc, các tôn giáo đều tăng về số lượng và quy mô hoạt động cả trong nước và quốc tế. Những thành tựu đó không chỉ nhân dân trong nước, trong đó có tín đồ các tôn giáo ghi nhận, mà còn được cả cộng đồng quốc tế thừa nhận. Do vậy, những nhận định “nhà cầm quyền csvn luôn luôn tìm đủ mọi cách để xâm nhập vào mọi tầng lớp sinh hoạt của người dân để kiểm soát, bắt bớ, đàn áp”; “cơ quan chính quyền tìm cách phá hoại, ngăn cản”; “Việt Nam không bao giờ có tự do tín ngưỡng” của Vũ Hoàng Anh là thiếu khách quan, không đúng với thực tế ở Việt Nam.

Như vậy, ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được bảo đảm trong thực tế, không có việc “đàn áp”, hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Mọi người, tổ chức xã hội trong đó có tổ chức tôn giáo sẽ mãi đồng hành với dân tộc, với Đảng, cùng chung tay phấn đấu đạt mục tiêu vì con người, dân chủ, công bằng, văn minh, vì sự phồn vinh của đất nước và đập tan những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tự do tín ngưỡng và hội đoàn cũng như tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam./.

LUẬN ĐIỆU CỦA KẺ CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

 Trong khi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang tập trung cao độ mọi sức lực cho nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, nhất là thực hiện công cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, Kết luận số 21-KL/TW và Quy định số 37-QĐ/TW. Theo đó đã có những tổ chức, cá nhân vi phạm buộc phải đưa ra xét xử theo pháp luật. Nhân cơ hội đó, những kẻ phản động, bất mãn, chống đối lợi dụng internet, mạng xã hội để phát tán những bài viết, phát ngôn xuyên tạc, sai sự thật hòng nói xấu Đảng, Nhà nước.  

Gần đây trên trang “Voatiengviet” có bài viết “Nhìn lại những xáo trộn trên thượng tầng Ba Đình: Việt Nam sẽ đi về đâu ?” của Bút danh Hoàng Trường. Bài viết cho rằng: “Trong vòng hơn một năm qua,… hàng tá các ủy viên Bộ Chính trị, các phó thủ tướng, bộ trưởng và nhiều quan chức cao cấp bị “ngã ngựa” dưới các hình thức khác nhau, tội danh khác nhau” là cuộc “thanh trừng nội bộ ở thượng tầng”…

Đây là bài viết thể hiện tính chất thù địch rõ ràng, lộng ngôn, cố tình xuyên tạc sai sự thật, lợi dụng kết quả xây dựng và chỉnh đốn Đảng để bôi nhọ, nói xấu Đảng, Nhà nước. Người xưa thường có câu “uốn ba tấc lưỡi” để chỉ những kẻ lộng ngôn, dùng lời nói để nịnh bợ, ve vãn hay bẻ cong một sự thật nào đó, thế nhưng với những ngôn từ mà Hoàng Trường sử dụng trong bài viết của Y, như: “Cuộc ngã giá”, “thanh trừng”, “múa gậy vườn hoang”, “phó thường dân dự khuyết”, “xây thành đắp lũy”… để xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu Đảng, Nhà nước thì Hoàng Trường phải là kẻ có “cái lưỡi dài sáu tấc” mới đủ sự xảo quyệt như vậy.

Y còn tùy tiện phán xét rằng: Việc Quốc Hội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Trung ương Đảng bầu vị trí Chủ tịch nước đối với nguyên Bộ trưởng Bộ Công an Đại tướng Tô Lâm vào vị trí Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và một số vị trí chủ chốt trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Nhà nước và các bộ, ngành là “Những cuộc ngã giá”. Thực chất, đây là sự hằn học, đố kị của những kẻ “thua cuộc” – Những kẻ “bán thân”, vuốt đuôi, những kẻ vong ân, bội nghĩa.

Trong bài viết, Hoàng Trường còn “ngạo mạn vạch ra các hướng đi cho Đảng, cho Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Y phân tích, hướng lái người đọc đi đến nhận định: Việt Nam cần cải cách chính trị, cần đa nguyên chính trị, thay thế thể chế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa… Âm mưu, mục đích sâu xa của Y và các thế lực phản động, cơ hội, thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò quản lý của Nhà nước… hướng lái dư luận đến với một thể chế chính trị mà chúng mong muốn.

Việt Nam không cần và cũng không đa nguyên, đa đảng, Bởi vì: ở Việt Nam, không có lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân suy tôn và có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi. Thứ hai, dân chủ và phát triển không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng và đa nguyên, đa đảng không đồng nghĩa với sẽ có dân chủ và phát triển.

Thứ ba, ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước ta luôn đề cao thực hành dân chủ, công bằng xã hội và vì lợi ích của người dân. Thứ tư, xã hội ổn định bền vững và sự tăng trưởng, an sinh xã hội được bảo đảm – đây là vấn đề cốt lõi của bất kỳ quốc gia nào. Với chế độ một đảng lãnh đạo, Việt Nam có điều kiện để giữ vững ổn định chính trị, được đánh giá là một trong những nước có sự ổn định chính trị cao trên thế giới.

Cũng chỉ cần là một công dân bình thường, như cách gọi “phó thường dân” của Hoàng Trường, chúng ta cũng dễ dàng nhận rõ âm mưu, mục đích sâu xa và thủ đoạn ẩn chứa trong những bài viết “dạng” như thế này. Với kiểu “khua môi, múa mép” để kiếm miếng cơm, manh áo từ những thế lực, những tổ chức, cá nhân chống đối, thù hằn, phản động trong và ngoài nước nhằm vào Đảng, Nhà nước, nhân dân ta. Bằng lòng tự hào dân tộc, sự tự tôn, tự trọng của con người Việt Nam chân chính, chúng ta cần phân biệt trắng đen, thật giả để kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, lộng ngôn, sai sự thật như kiểu của Hoàng Trường với những bài viết của Y để bảo vệ lẽ phải, cái đúng, bảo vệ sự thật, cũng là bảo vệ chính môi trường xã hội lành mạnh của chúng ta./.

VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN

Vừa qua, trên trang “Doithoaionline” Dân Trần có bài viết: “Hiệp định Việt – Nga: ký cho vui chứ chẳng ý nghĩa gì”, cho rằng 11 văn kiện hợp tác quốc tế giữa Việt Nam – Liên bang Nga trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Nga Vladimir Putin từ ngày 19 – 20/6/2024 theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là hão huyền, không thể thực hiện được. Bởi vì, xét về mặt lịch sử, tháng 2/1979 khi Việt Nam bị Trung Quốc tấn công, Liên Xô chỉ lên tiếng phản đối và yêu cầu Trung Quốc rút quân ngay lập tức, ngoài ra không có hành động quân sự nào giúp Việt Nam, mặc dù trước đó năm 1978 Việt – Xô từng ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa hai nước và hiện nay Nga đã kiệt quệ về kinh tế và quân sự sau hơn hai năm sa lầy trong cuộc chiến xâm lược Ukraine. Thực tế, Dân Trần đang cố tình xuyên tạc và không hiểu gì về quan hệ truyền thống giữa Việt Nam và Liên bang Nga.

Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc (17/02/1979). Ngày 19/2/1979, Chính phủ Liên Xô tuyên bố: Liên bang Xô Viết sẽ thực hiện đầy đủ những điều khoản cam kết được ghi trong Hiệp ước hợp tác hữu nghị toàn diện và giúp đỡ lẫn nhau giữa Liên Xô và Việt Nam; yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa chống nhân dân Việt Nam và lập tức rút quân khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam…, nếu Trung Quốc tiếp tục chiến tranh, tấn công Hà Nội và Hải Phòng, hoặc duy trì quân đội của mình trên vùng đất chiếm được. Liên Xô, sẽ thể hiện sự kiên quyết và sức mạnh trước toàn thế giới, giữ lời cam kết với đồng minh, sẽ tham gia giải quyết xung đột.

Cùng lúc đó, một cầu hàng không được thiết lập từ Liên Xô đến Việt Nam. Ngày 19/2/1979, một đội chuyên gia kỹ, chiến thuật binh chủng và cố vấn quân sự của tất cả các quân, binh chủng thuộc quân đội Liên Xô, được tăng cường đến Việt Nam có nhiệm vụ hỗ trợ, giúp đỡ và cố vấn cho các cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam tại chiến trường, đồng thời, cử phi đoàn máy bay vận tải An- 12, tiến hành không vận toàn bộ một Quân đoàn của Quân đội nhân dân Việt Nam từ Campuchia về Lạng Sơn; viện trợ hơn 1.000 đơn vị (unit) trang thiết bị chiến đấu, 20 máy bay quân sự và máy bay trực thăng, hơn 3 nghìn tấn vũ khí trang bị, đạn và cơ sở vật chất phục vụ chiến tranh, hơn 400 xe tăng và xe thiết giáp, xe bộ binh cơ giới, 400 khẩu pháo và súng cối, 50 tổ hợp pháo phản lực Grad BM-21, hơn 100 khẩu pháo phòng không, 400 tổ hợp tên lửa phòng không vác vai và hàng nghìn tên lửa, 800 súng chống tăng RPG-7, 20 máy bay tiêm kích cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Trên khu vực biên giới với Trung Quốc, tất cả các đơn vị của quân đội Liên Xô được lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu và tiến hành cuộc diễn tập hiệp đồng quân binh chủng có sử dụng đạn thật và sẵn sàng tham chiến khi có lệnh. Nhờ lập trường kiên quyết và cứng rắn của Liên Xô cùng với ý chí kiên cường, lòng dũng cảm, năng lực chiến đấu mạnh mẽ của Quân đội nhân dân Việt Nam, ngày 5/3/1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi lãnh Việt Nam mà không đạt được mục đích đề ra.

Việt Nam luôn coi trọng quan hệ truyền thống, đối tác chiến lược toàn diện với Liên bang Nga là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của mình. Việt Nam ủng hộ Liên bang Nga đóng góp tích cực vào công việc chung của cộng đồng quốc tế, đồng thời tin tưởng rằng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, vững mạnh có uy tín và vị thế ngày càng cao cũng phù hợp với lợi ích lâu dài của Liên bang Nga ở châu Á-Thái Bình Dương và trên thế giới. Liên bang Nga khẳng định, Việt Nam là một trong những đối tác chiến lược toàn diện quan trọng nhất của Liên bang Nga tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, thể hiện nổi bật qua quan hệ chính trị – ngoại giao tốt đẹp, hợp tác kinh tế – thương mại được duy trì, hợp tác quốc phòng, an ninh được củng cố, phát triển, hợp tác trên các lĩnh vực khác được thúc đẩy và quan hệ giữa các tổ chức xã hội và giao lưu nhân dân ngày càng hiệu quả.

Hai bên khẳng định: Việc củng cố và nâng cao hiệu quả quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện là một trong những ưu tiên đối ngoại của Việt Nam và Liên bang Nga, đáp ứng lợi ích lâu dài, góp phần vào sự phát triển của mỗi nước, cũng như nâng cao vai trò của hai quốc gia tại mỗi khu vực và trên thế giới. Việt Nam và Liên bang Nga xây dựng quan hệ trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết hòa bình các tranh chấp, cũng như trên cơ sở phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, quyết tâm hợp tác chặt chẽ trên tất cả các lĩnh vực trong khuôn khổ song phương và đa phương. Việt Nam và Liên bang Nga không liên minh hoặc thỏa thuận với bên thứ ba nhằm có các hành động phương hại đến độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, cũng như lợi ích cơ bản của nhau. Việc phát triển quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga không nhằm chống lại bất kỳ bên thứ ba khác. Như vậy, việc hiện thực hoá 11 văn kiện hợp tác quốc tế giữa Việt Nam – Liên bang Nga được ký kết ngày 20/6/2024 vừa qua là hoàn toàn có cơ sở.

Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả quan hệ giữa Việt Nam – Liên bang Nga, càng bộc lộ rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, đi ngược lại với nguyện vọng, lợi ích lâu dài, chính đáng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn.

NGUYÊN TẮC ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM “ LỢI ÍCH QUỐC GIA – DÂN TỘC LÀ TRÊN HẾT, TRƯỚC HẾT”

Việt Nam khẳng định, quan điểm, lập trường nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; trong quan hệ phải nắm vững hai mặt, vừa hợp tác, vừa đấu tranh; kiên định nguyên tắc, mục tiêu chiến lược, nhưng linh hoạt, khôn khéo về sách lược. Đặt lợi ích quốc gia – dân tộc là mục tiêu cao nhất của đối ngoại, tức là đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trước hết và trên hết; đồng thời, chỉ ra nguyên tắc chung là phải luôn nỗ lực đạt được lợi ích quốc gia – dân tộc tới mức cao nhất có thể trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; cùng phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Về quan hệ với Hoa Kỳ, Việt Nam khẳng định, trên tinh thần: gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng tới tương lai. Hiện nay, hai nước đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện sau chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Joseph R. Biden Jr tháng 9/2023; quan hệ hai nước đang phát triển năng động và ngày càng sâu rộng trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác ở khu vực và trên thế giới.

Về quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam khẳng định đây là mối quan hệ láng giềng hữu nghị, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện theo phương châm 16 chữ vàng: láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với tinh thần 4 tốt: láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, góp phần tích cực vào việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển. Việt Nam và Trung Quốc mong muốn hai nước phát triển quan hệ lâu dài, ổn định, ngày càng hiệu quả, thực chất theo tinh thần nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.

Về quan hệ với Liên bang Nga, Việt Nam luôn coi trọng quan hệ truyền thống, đối tác chiến lược toàn diện với Liên bang Nga, là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam ủng hộ nước Nga đóng góp tích cực vào công việc chung của cộng đồng quốc tế, chính sách hướng Đông của nước Liên bang Nga, đồng thời tin tưởng chắc chắn rằng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, vững mạnh có uy tín và vị thế ngày càng cao cũng phù hợp với lợi ích lâu dài của Liên bang Nga ở châu Á-Thái Bình Dương và trên thế giới. Liên bang Nga khẳng định, Việt Nam là một trong những đối tác chiến lược toàn diện quan trọng nhất của Nga tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, thể hiện nổi bật qua quan hệ chính trị – ngoại giao tốt đẹp, hợp tác kinh tế – thương mại được duy trì, hợp tác quốc phòng, an ninh được củng cố, hợp tác trên các lĩnh vực khác được thúc đẩy và quan hệ giữa các tổ chức xã hội và giao lưu nhân dân ngày càng hiệu quả. Hai bên khẳng định: Việc củng cố và nâng cao hiệu quả quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện là một trong những ưu tiên đối ngoại của Việt Nam và Liên bang Nga, đáp ứng lợi ích lâu dài, góp phần vào sự phát triển của mỗi nước, cũng như nâng cao vai trò của hai quốc gia tại mỗi khu vực và trên thế giới. Việt Nam và Liên bang Nga xây dựng quan hệ trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết hòa bình các tranh chấp, cũng như trên cơ sở phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, quyết tâm tiếp tục hợp tác chặt chẽ trên tất cả các lĩnh vực trong cả khuôn khổ song phương và đa phương. Hai bên, không liên minh hoặc thỏa thuận với bên thứ ba làm phương hại đến độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, cũng như lợi ích cơ bản của nhau. Việc phát triển quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga không nhằm chống lại bất kỳ bên thứ ba khác.

Như vậy, trong đối ngoại, Việt Nam không quá đề cao hay xem nhẹ bất cứ mối quan hệ nào mà luôn đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên hàng đầu. Điều này, không có nghĩa là Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc vị kỷ mà phải trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, cùng phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Những luận điệu xuyên tạc, đường lối đối ngoại của Việt Nam, đã bộc lộ rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, đi ngược lại với lợi ích chính đáng của Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam. Mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn./.

NHẬN DIỆN CHIÊU TRÒ VU CÁO VIỆT NAM VI PHẠM DÂN CHỦ

Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức xuyên tạc đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, phủ nhận những thành tựu của cách mạng, lợi dụng các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền”, những tiêu cực trong xã hội để chống phá cách mạng, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ. Đây thực sự là một “mũi nhọn” trong âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch. Tiếp tay cho âm mưu, thủ đoạn đó, RFA tiếng Việt thường xuyên phát tán nhiều bài nói, bài viết, video clip trên mạng xã hội có nội dung xuyên tạc tình hình dân chủ ở Việt Nam. Bài viết Báo cáo của tổ chức Sáng kiến Đánh giá Nhân quyền (HRMI) năm 2024: người dân Việt ít an toàn trước nhà nước hơn xuất hiện gần đây là một điển hình. Thông qua báo cáo thường niên của tổ chức Sáng kiến Đánh giá Nhân quyền (HRMI) có nội dung phản ánh sai lệch thực trạng nhân quyền ở Việt Nam và “phỏng vấn” một số “tù nhân lương tâm”, RFA đưa ra nhiều nhận định xuyên tạc như: tình trạng nhân quyền của Việt Nam tiếp tục suy giảm, tự do ngôn luận không được cải thiện, người dân không thực hành được các quyền của mình… Những luận điệu dễ gây nên sự ngộ nhận, mơ hồ, lẫn lộn về nhận thức, sự dao động về tư tưởng trong một bộ phận cán bộ và nhân dân. Do đó, nhận diện, đấu tranh làm thất bại những luận điệu nguy hiểm đó là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước ta luôn thực hiện nhất quán chủ trương: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân”. Quá trình đổi mới đất nước đồng thời là quá trình củng cố, hoàn thiện những điều kiện bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; chăm lo và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Quyền làm chủ của nhân dân không chỉ thể hiện trong các văn bản Hiến pháp, pháp luật, mà điều quan trọng ngày càng được thể hiện sinh động trong cuộc sống hàng ngày, trong đời sống hiện thực của quần chúng nhân dân. Mọi công dân Việt Nam đều có quyền tham gia quản lý xã hội một cách trực tiếp, hoặc thông qua người đại diện do mình lựa chọn. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trở thành quy chế, thiết chế dân chủ trong các tổ chức chính trị – xã hội, trong các hoạt động của xã hội; là phương châm hành động của người dân trong xây dựng hệ thống chính trị, yêu cầu ứng xử của cán bộ trong tiếp xúc, quan hệ với dân. Nhân dân lao động là chủ thể mọi quyền lực; quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Các vấn đề về tự do tôn giáo, tín ngưỡng; xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, thực hiện an sinh xã hội cũng luôn được quan tâm; chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục tăng theo các năm và hiện lọt vào nhóm phát triển con người cao, xếp thứ 115/191 quốc gia, vùng lãnh thổ… Những nỗ lực của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong đảm bảo, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền không chỉ là điểm sáng được quốc tế ghi nhận, mà còn là cơ sở, sự tin tưởng để Việt Nam trúng cử, trở thành thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc lần thứ hai, nhiệm kỳ 2023 – 2025. Sự thật này bác bỏ những luận điệu bẻ cong sự thật, đánh lừa dư luận, xuyên tạc, phủ nhận của RFA về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Thành tựu dân chủ ở nước ta là sự thật không thể phủ nhận. Việc gìn giữ, phát triển những thành tựu ấy phụ thuộc vào sự đoàn kết, quyết tâm, nỗ lực hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội là nguyên tắc, động lực của việc đảm bảo, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền ở nước ta hiện nay.

VỮNG TIN VÀO CÁC CHỦ TRƯƠNG, QUYẾT SÁCH CỦA ĐẢNG VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 Với phương châm: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực” và quan điểm chỉ đạo: “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào” công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta thời gian qua được đẩy mạnh, ngày càng quyết liệt, đồng bộ. Chỉ tính riêng trong năm 2023: “cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 606 tổ chức đảng, hơn 24.160 đảng viên (tăng 12% về số đảng viên bị kỷ luật so với năm 2022). Trong đó, thi hành kỷ luật 459 đảng viên do tham nhũng, 8.863 đảng viên do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 19 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Trong đó, lần đầu tiên có 6 cán bộ bị xử lý kỷ luật do vi phạm trong kê khai tài sản, thu nhập”[2]. Thời gian gần đây, đã và đang đưa ra xét xử những đại án tham nhũng điển hình sai phạm trong các lĩnh vực quản lý kinh tế, lợi dụng chức vụ như AIC, Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB… và có cả Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân một số tỉnh, thành phố bị kỷ luật, bị truy tố trước pháp luật vì những sai phạm có liên quan đến tham nhũng, tiêu cực là minh chứng rất rõ ràng cho quyết tâm của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Bằng những việc làm thiết thực của mình, Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện rõ quan điểm và quyết tâm không bao che; kiên quyết đấu tranh loại trừ những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham nhũng và loại trừ tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội. Những kết quả quan trọng đạt được trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, để Đảng ta xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”, khẳng định bản chất ưu việt của chế độ xã hội ta, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

TINH THẦN THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT LÀ VẤN ĐỀ CÓ TÍNH NGUYÊN TẮC

Vừa qua trên trang mạng “Baotiengdan”, bút danh Đỗ Kim Thêm đăng bài “Chỉ số thượng tôn pháp luật năm 2023 của Việt Nam” ám chỉ, tiên đoán vô căn cứ cho rằng “hệ thống pháp quyền của Việt Nam sẽ ngày càng tồi tệ hơn”…Thực tế cho thấy, chính những kẻ nhân danh công lý, các nhà gọi là bảo vệ nhân quyền kia… đang ráo riết xuyên tạc, vu khống Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền lại đang thực hiện những hành động can thiệp thô bạo vào vấn đề nội bộ, xâm phạm các quyền tự chủ, tự quyết của Việt Nam, cản trở tiến trình phát triển và “thượng tôn pháp luật” vì mục tiêu đem lại cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc, dân chủ, công bằng, văn minh cho người dân Việt Nam. Thực chất là lợi dụng dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, hành động chống phá cách mạng Việt Nam, vi phạm pháp luật, đi ngược lại lợi ích, quyền lợi chính  đáng của nhân dân.

Phải khẳng định rằng, ở Việt Nam hiện nay: bảo đảm dân chủ, bảo vệ nhân quyền luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước Việt Nam coi trọng trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Tôn trọng, bảo đảm dân chủ, bảo vệ nhân quyền, tự do tôn giáo trong phạm vi “phép nước”; tinh thần “Thượng tôn pháp luật” không phải chỉ là những khẩu hiệu, những lời tuyên bố mà chính là đặc trưng, bản chất, mục tiêu, nhiệm vụ của chế độ Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phù hợp với Luật pháp quốc tế, với Hiến pháp Việt Nam. Bằng chứng là từ năm 2016 đến nay chỉ số thượng tôn pháp luật của Việt Nam từ hạng 67 thăng hạng lên 87 là thăng lên 20 bậc so với 142 nước do tổ chức World Justice Project (WJP) công bố, là nước có sự thăng hạng nhanh nhất ở các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân Việt Nam đang nỗ lực xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa tốt đẹp, dân chủ, tiến bộ, văn minh: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, luôn xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Để bảo đảm và giữ vững bản chất dân chủ ưu việt, tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định phải coi trọng việc bảo vệ dân chủ, nhân quyền, bảo đảm tốt nhất mọi quyền lợi của nhân dân, hơn thế, không chỉ cần mà còn phải luôn “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”, “bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân”, để nhân dân tham gia quyết định những vấn đề lớn của đất nước theo phương châm “Dân biết, dân  bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Sẵn sàng xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị – xã hội hoặc vi phạm dân chủ, vi phạm pháp luật làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân. Mọi nỗ lực, cố gắng không ngừng của Đảng và Nhà nước nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Hiến pháp cũng khẳng định rõ: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước đều hướng tới ghi nhận và bảo đảm, bảo vệ ngày càng tốt hơn, đầy đủ hơn các quyền của mọi người dân.

Thượng tôn pháp luật, đó là vấn đề cơ bản, tất yếu của mỗi quốc gia. Một đất nước khi mà nền pháp chế được tuân thủ nghiêm minh, mọi thành viên trong xã hội đều tuân thủ luật pháp, trên cơ sở hiểu đúng và làm đúng pháp luật cũng chính là tự bảo đảm quyền tự do, dân chủ của mình; không có xã hội nào lại có cái quyền tự do tuyệt đối hay tự do vô chính phủ. Thượng tôn pháp luật là đòi hỏi, là tiêu chí của một chế độ dân chủ, văn minh mà ở Việt Nam chính là tuân thủ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm hệ thống pháp luật luôn mang bản chất của dân, do dân và vì dân. Mọi công dân, tổ chức và cá nhân sống, làm việc trên lãnh thổ Việt Nam đều phải hiểu và tuân thủ pháp luật của Việt Nam, bất cứ ai vi phạm pháp luật đều phải chịu chế tài xử lý của luật pháp, không phân biệt đẳng cấp, vị trí, không có vùng cấm, không có ai được phép đứng ngoài luật pháp.

Những năm qua, cứ mỗi lần có những công dân, hoặc những kẻ lợi dụng xem thường luật pháp, sau nhiều lần giáo dục, cảnh báo, răn đe nhằm giúp họ nhận thức đúng và dừng ngay những hành vi vi phạm luật pháp, song họ vẫn cố tình vi phạm luật pháp, vi phạm vào Điều 117 Bộ luật hình sự Việt Nam “Tội làm, tàng trữ, tán phát hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và Điều 331 Bộ luật hình sự Việt Nam về “Tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và xử lý nghiêm.

Do vậy, mọi sự phản đối đòi bác bỏ một số điều của luật pháp Việt Nam đều là sự thiển cận và không có cơ sở. Những luận điệu xuyên tạc, vu khống về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam là những lời nói bôi nhọ, vu cáo Đảng, Nhà nước, khích động tư tưởng chống phá, gây mất ổn định chính trị, cản trở sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, cuộc sống lao động và lợi ích của nhân dân. Những luận điệu đó được phát ra từ những kẻ cơ hội chính trị, phản động, luôn lợi dụng dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và nhân dân Việt Nam phải được nghiêm trị theo đúng pháp luật, để luật pháp của Việt Nam luôn phải được “Thượng tôn”./. 

NGÀY THƯƠNG BINH – LIỆT SĨ 27/7 CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG VỚI NGƯỜI DÂN VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?

 Cần khẳng định rằng, ngày Thương binh – Liệt sĩ 27/7 hàng năm có ý nghĩa quan trọng với người dân Việt Nam, thể hiện truyền thống hiếu nghĩa, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”; thể hiện sự biết ơn sâu sắc đối với sự hy sinh, cống hiến của những người có công với đất nước. Song, bất chấp đạo lý ấy, các thế lực thù địch vẫn không ngừng chống phá, xuyên tạc bản chất, ý nghĩa sự hy sinh cao cả đó. Vừa qua, trên Bloger của “Baotiengdan”, Nguyễn Đình Cống có bài viết: “Ngày Thương binh Liệt sĩ: Một sự thật không được nói tới”, với mục đích cố tình xuyên tạc bản chất của ngày 27/7 và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngày Thương binh – Liệt sỹ 27/7 hàng năm, có ý nghĩa quan trọng với toàn thể dân tộc Việt Nam. Ngày 27/7 là ngày thể hiện truyền thống “hiếu nghĩa bác ái”, lòng quý trọng và biết ơn sâu sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những cống hiến, hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sỹ vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Những hành động mang ý nghĩa tôn vinh người có công với cách mạng, khẳng định sự cống hiến, hy sinh của đồng bào, chiến sỹ là vô giá, không chỉ cho ngày hôm qua, hôm nay mà cho muôn đời con, cháu mai sau. Việc chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công là nghĩa vụ, trách nhiệm và niềm vinh dự, tự hào của cả hệ thống chính trị và nhân dân, của thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau; khẳng định bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, củng cố niềm tin của nhân dân ta vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, góp phần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cơ sở, tiền đề để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng giáo dục ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân và lòng biết ơn sâu sắc cho các tầng lớp nhân dân của các thế hệ đối với liệt sỹ, gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh và người có công với cách mạng.

Điều 4, Hiến pháp năm 2013 quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và cả xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Thành tựu của sự nghiệp cách mạng sau gần 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định, Việt Nam đã đạt được những thành tựu vô cùng quan trọng và thật đáng tự hào trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh… được cộng đồng quốc tế ghi nhận, sức mạnh tổng hợp quốc gia tăng lên. Việt Nam được cả thế giới mến phục, coi là biểu tượng của sự ổn định chính trị, tinh thần chiến thắng đói nghèo, đề cao giá trị, nhân nghĩa trong thế kỷ XXI, chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Theo Báo cáo Hạnh phúc Toàn cầu của Liên hợp quốc công bố, năm 2021 Việt Nam đứng thứ 79/149 trong bảng xếp hạng; năm 2022 Việt Nam đứng thứ 77/150 trong bảng xếp hạng, tăng 2 bậc so với năm 2021; năm 2023 Việt Nam đứng thứ 65/150 trong bảng xếp hạng, tăng 12 bậc so với năm 2022; năm 2024, Việt Nam đứng thứ 54/150, tăng 11 bậc so với năm 2023. Có thể khẳng định rằng, người dân Việt Nam ngày càng hạnh phúc, ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

Như vậy, sự hi sinh quên mình vì độc lập, tự do của dân tộc, vì sự bình yên, hạnh phúc của nhân dân, của các Anh hùng liệt sĩ, những thương bệnh binh, người có công với cách mạng sẽ mãi mãi lã những tượng đài lịch sử bất tử trong mỗi người dân Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng, xuyên tạc ngày Thương binh – Liệt sĩ; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước chỉ càng bộc lộ rõ bản chất bất nhân của các thế lực thù địch, đi ngược lại với lợi ích chung của toàn thể dân tộc. Mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn.

VIỆT NAM CHUYỂN MÌNH ẤN TƯỢNG DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 Đại hội XIII của Đảng đã xác định: Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ…nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng…xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh…đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực… Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo, đặc biệt trong gần 40 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tỏ rõ, khẳng định, xứng đáng là lực lượng chính trị duy nhất hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam, không có bất kỳ lực lượng chính trị nào có thể thay thế được. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước; cả hệ thống chính trị vào cuộc; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu và đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử; đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay: Tổng sản phẩm quốc nội GDP năm 2023 đạt hơn 430 tỷ USD, tăng 58 lần so với năm 1986; giai đoạn 1986-2022, nước ta lọt top 5 nước có quy mô kinh tế tăng nhiều nhất thế giới. GDP bình quân đầu người năm 2023 đạt gần 4.300 USD, tăng 58 lần so với những năm đầu đổi mới. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ; có quan hệ kinh tế, thương mại với hơn 230 đối tác và quan hệ hợp tác với hơn 300 tổ chức quốc tế. Việt Nam trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong khu vực Đông Nam Á; đứng thứ 35 trên thế giới; quy mô thương mại trong top 20 thế giới.

Năm 2023 tăng trưởng kinh tế của nước ta đạt 5,05% là nước có tốc độ tăng trưởng cao trên thế giới; thu ngân sách nhà nước vượt 133,4 nghìn tỷ VNĐ = 8,2% dự toán; kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 681 tỷ USD; xuất siêu 28,3 tỷ USD; đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 39,4 tỷ USD, tăng 34,5%; số hộ gia đình có thu nhập tăng lên và ổn định đạt 94,1%. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền quốc gia được giữ vững; đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh. Fitch Ratings nâng hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam từ mức BB lên mức BB+, với triển vọng “ổn định”; xếp hạng môi trường kinh doanh tăng 12 bậc; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu tăng 2 bậc; chỉ số phát triển con người tăng 8 bậc; chỉ số hạnh phúc tăng 11 bậc. Theo một số dự báo, đến năm 2030, quy mô GDP của Việt Nam đạt khoảng 800 tỷ USD, gấp 2,4 lần năm 2020; đến năm 2045, quy mô GDP đạt khoảng 2.400 tỷ USD, gấp 3 lần năm 2030 và gấp 6,9 lần năm 2020.

Thực tiễn sinh động nêu trên một mặt khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò quản lý của Nhà nước; của cả hệ thống chính trị và vai trò, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng; quản lý của Nhà nước, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam cần đề cao cảnh giác, nhận diện chính xác bộ mặt xấu xa của bọn phản động; kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái của bọn chúng; bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống bình yên của nhân dân ta./.

Ý NGHĨA CỦA QUY ĐỊNH 144-QĐ/TƯ “VỀ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN MỚI”

 Thứ nhất, Quy định 144-QĐ/TƯ là một trong những văn kiện thể hiện tầm tư duy mới, đánh dấu bước phát triển cao trong nhận thức và hành động của Đảng ta

Nội dung chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên nêu trong Quy định số 144 – QĐ/TƯ được gói gọn trong năm điều, là: Yêu nước, tôn trọng nhân dân, tuyệt đối trung thành với Ðảng, với Tổ quốc; Bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo, hội nhập; Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; Ðoàn kết, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm; Gương mẫu, khiêm tốn, tu dưỡng rèn luyện, học tập suốt đời. Ðây là những phẩm chất cơ bản nhất, nếu thiếu một phẩm chất nào đó thì không thể làm cán bộ, làm “công bộc” của dân. Ðể có Quy định số 144, Bộ Chính trị đã giao cho một số cơ quan tổng kết thực tiễn, tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học, lấy ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu lý luận, nhà lãnh đạo, quản lý một cách bài bản, công phu. Quy định 144-QĐ/TƯ không đơn thuần là sự cập nhật quan điểm chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII về công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, mà còn là sự phát triển, bổ sung và hoàn thiện tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm của Đảng về công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới.

Đạo đức cách mạng là một trong những giá trị cốt lõi của người cán bộ, đảng viên; là yếu tố quan trọng tạo nên giá trị, vị thế, uy tín của người cán bộ, đảng viên trong xử lý các mối quan hệ xã hội và trong công việc. Bên cạnh yếu tố trí tuệ, tài năng, chuẩn mực đạo đức giúp cán bộ, đảng viên làm việc có mục đích, luôn kiên định và giữ vững mục tiêu, lý tưởng, thấy rõ bổn phận và trách nhiệm, điều chỉnh hành vi ứng xử, trong bất cứ hoàn cảnh nào; khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ hãi, không lùi bước.Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn dành sự quan tâm bồi dưỡng giáo dục và rèn luyện đạo đức, tư cách cho cán bộ, đảng viên, xem đức – tài là hai mặt song hành, trong đó đức là gốc. Ðây là nhiệm vụ vừa lâu dài, vừa cấp bách để xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự là “công bộc” của dân, tránh xa mọi cám dỗ đời thường đang có nguy cơ làm xấu đi hình ảnh cán bộ ở các cấp. Đồng thời việc tu dưỡng, rèn luyện theo những chuẩn mực đạo đức cách mạng là một quá trình theo suốt cuộc đời của cán bộ, đảng viên. Thiếu sự tu dưỡng thường xuyên thì cán bộ lãnh đạo dù ở cấp nào, có quá trình cống hiến nhiều hay ít đều đánh mất uy tín, không thể đáp ứng trọng trách được tổ chức giao phó.

Thứ hai, việc ban hành Quy định 144-QĐ/TƯ “về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” để Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng

Thấy rõ vai trò đặc biệt của đạo đức cách mạng, Ðảng ta luôn chú trọng xây dựng, chuẩn bị đạo đức cho cán bộ, đảng viên bằng việc ban hành, tổ chức thực hiện nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định về vấn đề này và có cơ chế xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm. Ban Chấp hành Trung ương Ðảng các khóa XI, XII, XIII đều có nghị quyết, kết luận về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Ðảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Thực tế đã minh chứng chủ trương ấy với quyết tâm cao của toàn Ðảng mà trực tiếp là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và đồng chí Tổng Bí thư. Trong nhiệm kỳ Ðại hội XIII của Ðảng đã có một số cán bộ, Đảng viên, trong đó có cả cán bộ cấp cao bị thi hành kỷ luật, một số trường hợp phải xử lý hình sự; nhiều đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị thấy không còn đủ uy tín để tiếp tục công tác phải làm đơn xin từ chức.

Quy định 144-QĐ/TƯ đã hệ thống toàn diện phẩm chất của cán bộ, đảng viên được thực tiễn cách mạng khẳng định từ trước đây và phù hợp với giai đoạn mới. Bổ sung những nội dung mới, tiêu chí mới, như bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo và hội nhập. Qua đó cho thấy, đây là quy định rất cụ thể, nghiêm khắc. Một khi thiếu 1 trong 5 chuẩn mực đó thì không thể là cán bộ, đảng viên. Đây cũng là cơ sở để từng cán bộ, đảng viên thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò, vị trí và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Đồng thời, với Quy định 144-QĐ/TƯ “về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” giúp cho chúng ta có thêm niềm tin vào sự quyết tâm của Đảng, truyền động lực cho toàn dân tộc vượt qua những khó khăn, thử thách trước mắt, để hướng tới những mục tiêu lâu dài hơn trong xây dựng đất nước hùng cường, hạnh phúc./.

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC BẢN CHẤT TỐT ĐẸP CỦA NỀN TƯ PHÁP XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

 Thời gian qua, trên Đài Á châu tự do (RFA) đăng tải bài viết “Ông Tô Lâm hô khẩu hiệu “xây dựng một nền tư pháp xã hội chủ nghĩa hiện đại, chuyên nghiệp”. Xuyên suốt bài viết là những luận điệu xuyên tạc, phản động về tính ưu việt, bản chất tốt đẹp của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cho rằng: xây dựng nền tư pháp hiện đại, chuyên nghiệp… không để bỏ lọt tội phạm và người phạm tội… là những lời lẽ hô hào khẩu hiệu, không hề thực tế. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái vì:

Một là, nền tư pháp xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dựa trên những giá trị phổ quát của thế giới .

Mỗi quốc gia, dân tộc tuy có những đặc điểm khác nhau vể thể chế chính trị, hệ thống pháp luật và tổ chức cơ quan tư pháp, song đều phải hướng đến những giá trị mang tính phổ quát của nhân loại, tôn trọng và bảo đảm các quyền của con người được sống trong môi trường hoà bình. Đối với Việt Nam, nền tư pháp được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Đảng lãnh đạo và không can thiệp vào hoạt động chuyên môn của cơ quan tư pháp. Mọi hoạt động của cơ quan tư pháp đều theo đúng đường lối chính trị, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữ vững bản chất tốt đẹp của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, duy trì và bảo vệ nền tư pháp xã hội chủ nghĩa vì sự công bằng, dân chủ và nghiêm minh trong tổ chức thi hành pháp luật. Nền tư pháp xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được vận hành trên nền tảng là Hiến pháp và pháp luật; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, bộ phận trong hệ thống tư pháp, bảo đảm mọi công việc của Đảng, Nhà nước và xã hội diễn ra theo đúng quy định của pháp luật. Trong đó toà án nhân dân các cấp là trung tâm của hệ thống cơ quan tư pháp, giải quyết các xung đột xã hội, bảo đảm nền tư pháp được thực thi một cách dân chủ, công khai, minh bạch, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Hoàn thiện chính sách pháp luật liên quan đến tư pháp, bảo đảm tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Hai là, nền tư pháp xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đều vì dân, vì nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, nền tư pháp xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đạt được nhiều kết quả quan trọng. Ngành Tư pháp, đặc biệt là toà án nhân dân các cấp đã không ngừng đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động. Đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp nắm chắc pháp luật, tôn trọng, lắng nghe ý kiến phản hồi từ nhân dân để điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, thực thi pháp luật hiệu quả, phù hợp. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật để giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là ngăn ngừa tình trạng tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm. Với tinh thần thượng tôn pháp luật, không có vùng, không có ngoại lệ, bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, những tổ chức, cá nhân có hành động, việc làm đi ngược với đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nhất là với tội phạm xã hội, tham nhũng, tiêu cực đều bị xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật. Thời gian qua, nhiều tội phạm xã hội nguy hiểm, vụ án tham nhũng, tiêu cực về các lĩnh vực, ngành nghề gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân đã bị cơ quan tư pháp xử lý nghiêm minh và công khai, minh bạch trước xã hội. Báo cáo tóm tắt về hoạt động của hệ thống tư pháp nói chung và ngành toà án nhân dân các cấp nói riêng, ngày 14/6/2024 cho thấy: tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan của tòa án là 0,82%; tòa án nhân dân tối cao đã tập trung chỉ đạo các tòa án tổ chức xét xử nghiêm minh, bảo đảm  kịp thời, đúng tiến độ, đúng pháp luật…

Bản chất tốt đẹp của nền tư pháp pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì nhân dân vẫn là dòng chảy chủ đạo của nền tư pháp hiện đại, chuyên nghiệp, pháp quyền, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, mỗi chúng ta phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào công cuộc đổi mới, cải cách nền tư pháp vì sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước.

ÂM MƯU TÁCH GIÁO DỤC KHỎI CHÍNH TRỊ

 Với thái độ thù địch, mới đây, trên trang mạng “BBC” đăng tải bài viết: “Ở Việt Nam,

tự do học thuật chỉ là bánh vẽ” với luận điệu: “Việt Nam vẫn nằm trong nhóm có thứ

hạng thấp về tự do học thuật, khi giáo dục luôn gắn liền với chủ trương, đường lối và

lập trường của Đảng Cộng sản”. Đây là luận điệu phi lý nhằm tách giáo dục ra khỏi

chính trị, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi lẽ:

Giáo dục là công cụ sắc bén nhất để bảo vệ chính trị, là vấn đề được quan tâm hàng đầu,

tác động trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của một quốc gia, dân tộc. Giáo dục cùng với

hệ thống pháp luật làm cho hệ tư tưởng của giai cấp thống trị trở thành hệ tư tưởng chủ

đạo trong xã hội. Nhìn lại lịch sử xã hội loài người, mỗi chế độ xã hội có một nền giáo

dục tương ứng, phục vụ giai cấp lãnh đạo và lợi ích của xã hội. Nếu nền giáo dục đi

ngược lại điều đó sẽ không tồn tại và phát triển được. Không có giai cấp cầm quyền nào

cổ súy và tiếp nhận những tư tưởng, việc làm để phát triển nền giáo dục cần phải đứng

ngoài chính chị và lật đổ giai cấp cầm quyền.

Nền giáo dục ở Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, gắn với chế độ xã hội chủ

nghĩa. Bằng các quy định hiện hành, pháp luật Việt Nam vẫn đặt cơ sở pháp lý cho sự

phát triển và bảo đảm tự do học thuật. Khoản 11, Điều 1 Luật Giáo dục đại học năm

2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định: “Quyền tự chủ là quyền của cơ sở giáo dục

đại học được tự xác định mục tiêu và lựa chọn cách thức thực hiện mục tiêu; tự quyết

định và có trách nhiệm giải trình về hoạt động chuyên môn, học thuật, tổ chức, nhân sự,

tài chính, tài sản và hoạt động khác trên cơ sở quy định của pháp luật và năng lực của cơ

sở giáo dục đại học”. Khoản 7, Điều 55 của Luật này cũng quy định: Giảng viên có

quyền “độc lập về quan điểm chuyên môn trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học trên

nguyên tắc phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội”.

Ở Việt Nam người dạy và người học có quyền lựa chọn những vấn đề nghiên cứu,

phương pháp giảng dạy và học tập phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt

Nam, phù hợp với chuẩn mực đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa và quy định

của pháp luật Việt Nam vì mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam. Phát huy

tối đa tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, góp phần thực hiện mục tiêu dân

giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đất nước phồn vinh và hạnh phúc .

Học sinh Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tích ấn tượng trên các đấu trường quốc

tế. Tiêu biểu là kết thúc đợt thi Olympic khu vực, quốc tế năm 2022, các đội tuyển Việt

Nam đã đạt thành tích vượt trội với tổng số 32 Huy chương (gồm 12 Huy chương Vàng,

11 Huy chương Bạc, 9 Huy chương Đồng) và 5 Bằng khen. Trong đó, trên bảng xếp

hạng thế giới, đội tuyển Olympic Hóa học quốc tế xếp thứ 2; Olympic Toán học quốc tế

xếp thứ 4; Olympic Vật lý quốc tế xếp thứ 5. Tại các trường đại học, nội dung, phương

pháp và chương trình đào tạo giảng dạy thường xuyên được đổi mới, đào tạo nguồn

nhân lực ngày càng có chất lượng cho thị trường lao động trong nước và quốc tế. Những

nỗ lực đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo đã giúp 5 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam

lọt vào Bảng xếp hạng các trường đại học tốt nhất toàn cầu năm 2022 (Best Global

Universities) được Tạp chí uy tín của Hoa Kỳ – U.S. News & World Report công bố,

gồm: Trường Đại học Duy Tân, Trường Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Quốc gia Hà

Nội, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Kết quả trên đã góp phần cải thiện thứ hạng của Việt Nam trong bảng xếp hạng quốc gia

về giáo dục.

Như vậy, thực chất luận điệu mà đài BBC đưa ra là đặt giáo dục ra ngoài chính trị, đây

chính là một thủ đoạn nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam,

phá hoại văn hóa và truyền thống của dân tộc ta, làm cho giáo dục không thể thực hiện

được chức năng giáo dục nhân cách, chức năng định hướng tư tưởng, xây dựng niềm tin

cho người học. Vì vậy, chúng ta cần tỉnh táo, nhận diện, vạch trần và đấu tranh bác bỏ./.