Thứ Tư, 2 tháng 10, 2024

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ BẢO ĐẢM AN NINH QUỐC GIA

     Trong những năm gần đây, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, cục diện thế giới có sự biến động mạnh mẽ, các nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia cũng ngày càng đa dạng, như sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; các thế lực thù địch luôn tìm cách đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; những thách thức an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu…

Trong bối cảnh đó, Đảng ta luôn chủ động nhận định, đánh giá tình hình, bổ sung, phát triển nhận thức tư duy về an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia. Qua các kỳ đại hội, Đảng ta đều thẳng thắn đánh giá các nguy cơ này vẫn tồn tại, đồng thời xuất hiện nhiều nguy cơ mới, bao gồm các nguy cơ do tác động từ bên ngoài và các nguy cơ nảy sinh từ bên trong. Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp; khoảng cách giàu - nghèo, phân hóa xã hội ngày càng tăng… Bảo vệ chủ quyền biển đảo đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn. Tình hình chính trị - xã hội ở một số địa bàn còn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định.

Ngày nay, các mối đe dọa về an ninh phi truyền thống gia tăng, với quy mô, tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, tác động đến lợi ích, an toàn, an ninh quốc gia Việt Nam. Đại hội XIII, Đảng nhấn mạnh: Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, bệnh dịch, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường,… tiếp tục diễn biến phức tạp đặt ra nhiều thách thức lớn chưa từng có cho phát triển bền vững. Những thách thức an ninh phi truyền thống này có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, bất cứ lĩnh vực nào của đời sống xã hội, ngày càng đa dạng, phức tạp, tác động sâu rộng. Nếu không chủ động và tích cực phòng ngừa, ứng phó thì khi phát sinh dễ tạo ra những hậu quả khó lường đối với an ninh quốc gia. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mở ra nhiều cơ hội, song cũng đặt ra không ít thách thức đối với vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, nhất là tội phạm công nghệ cao, đe dọa thông tin, an ninh mạng. Điều này càng trở nên phức tạp khi chúng ta chưa chủ động về công nghệ, còn lệ thuộc vào các nhà cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, tiềm ẩn nguy cơ gây mất chủ quyền an ninh thông tin. Nhu cầu đầu tư vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự công nghệ cao có thể dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang nguy hiểm, đe dọa an ninh các quốc gia.

Trong bối cảnh, tình hình mới, an ninh quốc gia đứng trước những nguy cơ, thách thức mới rất phức tạp, đòi hỏi phải có chiến lược mới với tầm nhìn, hệ thống giải pháp dài hạn, chủ động để giữ vững an ninh quốc gia trong mọi tình huống. Đại hội XIII của Đảng nhận định, vấn đề an ninh quốc gia cần được hiểu một cách toàn diện hơn, rộng hơn, sâu hơn, không chỉ có các vấn đề an ninh chính trị, quân sự truyền thống, mà còn bao quát cả những vấn đề an ninh phi truyền thống. An ninh quốc gia bao gồm: An ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh quân sự, an ninh biên giới, biển, đảo, an ninh đối ngoại, an ninh tư tưởng - văn hóa, an ninh xã hội, an ninh thông tin, an ninh cơ sở dữ liệu, an ninh mạng, an ninh doanh nghiệp, an ninh tài chính - tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dân cư, an ninh dân số, an ninh môi trường, an ninh con người... Ngày 13/7/2023, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 24-CT/TW, về bảo đảm vững chắc an ninh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng tiếp tục khẳng định nhất quán vấn đề an ninh quốc gia là vấn đề đặc biệt hệ trọng, then chốt của quốc gia. Công tác bảo đảm an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên, được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo./.

BẢO ĐẢM AN NINH QUỐC GIA TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Sau gần 40 năm đổi mới, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác -Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta đã đổi mới cả trong tư duy, nhận thức và trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN.

Bảo vệ an ninh quốc gia trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, khi nước ta là thành viên của WTO có yêu cầu mới; bên cạnh thời cơ, thuận lợi, cũng nảy sinh không ít nguy cơ, thách thức. Về kinh tế, thách thức lớn nhất là vấn đề cạnh tranh quốc tế, mặt trái của toàn cầu hoá kinh tế cũng làm xuất hiện và làm sâu sắc những vấn đề xã hội. Về văn hoá-xã hội, đó là sự du nhập vào nước ta lối sống, văn hoá, đạo đức không lành mạnh, thực dụng. Về quốc phòng-an ninh (QP-AN), đó là mâu thuẫn giữa lợi ích kinh tế với yêu cầu tăng cường tiềm lực QP-AN, là việc lợi dụng mở cửa, hợp tác, đầu tư... để xâm hại QP-AN…

Đảng ta đã chỉ rõ, hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn liền với phát triển KT-XH, tăng cường QP-AN, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng XHCN, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Đây thực chất là giải quyết hài hoà mối quan hệ biện chứng giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để thực hiện có hiệu quả mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia trong tình hình mới, cần triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp:

Một là, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của toàn dân, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành, địa phương đối với nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia trong tình hình mới. Bảo vệ ANQG là sự nghiệp của toàn dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng, Nhà nước lãnh đạo, quản lý trực tiếp, toàn diện. Vì vậy, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, vận động quần chúng tích cực tham gia sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia là một nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Công tác giáo dục phải tiến hành thường xuyên, toàn diện, kết hợp nhiều nội dung, hình thức, phương pháp, nhưng tập trung có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng đối tượng, yêu cầu nhiệm vụ, chức trách được giao. Trong đó, phải hết sức chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, kiến thức QP-AN cho đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành, các địa phương, đoàn thể, tổ chức xã hội.

Hai là, nâng cao hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh của nền kinh tế và của các doanh nghiệp, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước. Đây là vấn đề có tính quyết định thành công của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Các bộ, ngành, địa phương bên cạnh việc tích cực, chủ động trong chiến lược, kế hoạch, chăm lo cải cách quản lý, hiện đại hoá, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh, cũng cần nắm vững luật lệ kinh tế của WTO, tích cực khai thác, mở rộng thị trường cả ở trong nước và nước ngoài, gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển KT-XH với tăng cường QP-AN, coi đây là hai mặt có quan hệ mật thiết, không thể tách rời.

Ba là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò nòng cốt, xung kích của các lực lượng Công an, Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc trong hội nhập kinh tế quốc tế. Sức mạnh bảo vệ ANQG là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội, quốc phòng, quân sự, đối ngoại... Bảo vệ an ninh quốc gia là nghĩa vụ, trách nhiệm của các cấp, các ngành, địa phương, của toàn dân, trong đó lực lượng công an, quân đội là nòng cốt; do đó, nó phải được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của các cấp uỷ đảng, chính quyền từ Trung ương tới cơ sở./. 

THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

     Sau 70 năm ngày Giải phóng Thủ đô, Thủ đô Hà Nội đã đạt được thành tựu đáng trân trọng và tự hào. Tốc độ tăng trưởng kinh tế Hà Nội mức tăng GRDP 6,27% (năm 2023), cao hơn so với mức tăng trưởng chung của cả nước (5,05%). Thu nhập của người dân tiếp tục được cải thiện, bình quân 150 triệu đồng/người/năm. Năm 2023, tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố đạt hơn 410.000 tỉ đồng, trong đó thu nội địa tiếp tục dẫn đầu cả nước với trên 381.000 tỉ đồng. Đến hết năm 2023, thành phố có 18/18 huyện đạt chuẩn nông thôn mới với 382/382 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 183 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 68 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, an sinh xã hội đảm bảo, quốc phòng, an ninh trên địa bàn được giữ vững, năng suất lao động ngày càng tăng, đạt bình quân trên 7%/năm.

Văn hóa, thể thao, du lịch, giáo dục, y tế và tôn tạo di tích được chú trọng đầu tư và phát triển. An sinh xã hội được đảm bảo, nhất là công tác xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, chăm sóc các đối tượng chính sách xã hội. Công tác đối ngoại của thành phố đã có những bước chuyển mình tích cực. Đến nay, Hà Nội đã ký thỏa thuận hợp tác với 61 Thủ đô, thành phố các nước; có quan hệ kinh tế thương mại với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ…Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch và phát triển đô thị có nhiều tiến bộ, thúc đẩy sự phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hà Nội cũng là một trong số ít những Thủ đô trên thế giới có lịch sử, truyền thống văn hóa hơn ngàn năm tuổi và được biết đến là “Thành phố di sản”, là nơi hội tụ và lan tỏa văn hóa, văn minh, nơi có bề dày trầm tích văn hóa với số lượng di sản lớn nhất cả nước với hệ thống danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử phong phú, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc với 5.922 di tích được kiểm kê; 1.350 làng nghề, gần 1.700 lễ hội dân gian, 1.793 di sản văn hóa phi vật thể. Với những cố gắng, nỗ lực trong suốt 70 năm qua của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô, Hà Nội xứng đáng là trung tâm chính trị – hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước, được bạn bè thế giới ngợi ca và được UNESCO vinh danh là “Thành phố vì hòa bình”; 3 lần được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, tặng danh hiệu “Thủ đô Anh hùng”.

Những thành tựu đổi mới của đất nước cũng như Thủ đô Hà Nội là minh chứng hùng hồn đập tan luận điệu xuyên tạc của Phạm Trần. Tục ngữ Việt Nam có câu: “giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”, điều này cho thấy Phạm Trần-một kẻ phản động, lưu manh chính trị có “số má”, sống lưu vong ở hải ngoại, với hư danh là “nhà báo”, “nhà dân chủ”, “nhân sĩ, trí thức”, kẻ mộng tưởng “sức mạnh” của bản thân có thể thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Những lời lẽ trong bài viết của Phạm Trần trên Baoquocdan cho thấy dã tâm của Y là kích động, xuyên tạc, chia rẽ giữa Đảng ta với nhân dân, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang ra sức xây dựng./.

HIẾU HỌC LÀ TRUYỀN THỐNG QUÝ BÁU CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

     Hiếu học là thói quen ham thích, coi trọng việc học hành và được hình thành lâu dài, truyền từ đời này sang đời khác trở thành truyền thống của dân tộc Việt Nam. Người “hiếu học” là biểu hiện của sự ham học hỏi, ham hiểu biết, muốn vươn tới, muốn chinh phục những tri thức của nhân loại. Hiếu học thể hiện một tinh thần tự nguyện, một sự nỗ lực cố gắng không ngừng của bản thân, không bao giờ tự bằng lòng với những cái đã biết, những cái đã học được. Người hiếu học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, học trong sách vở, học trong cuộc sống. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc thông minh và có truyền thống hiếu học. Người Việt Nam luôn coi trọng việc học, lấy việc học làm điều căn bản để thực hiện đạo lý làm người.

Nổi bật lên những nhân vật có tinh thần hiếu học, đó là Thầy Chu Văn An (1292 – 1370); Trạng nguyên nhỏ tuổi nhất Việt Nam – Nguyễn Hiền (1234 – 1256); Nhà sử học  Lê Văn Hưu (1230 – 1322), Nhà chính trị – nhà quân sự – nhà văn hóa Nguyễn Trãi (1380 – 1442); Nhà toán học Lương Thế Vinh (1441 – 1497); Nhà văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585); Nhà bác học Lê Qúy Đôn (1726 – 1784); Thầy giáo Võ Trường Toản (1709 – 1792); Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh; Thầy giáo – Nhà khoa học Tạ Quang Bửu (1910 – 1986); Thầy Nguyễn Ngọc Ký (1947 – 2022), v,v… là những tấm gương hiếu học, tự học, đồng thời là những “nhà giáo, nhà văn hóa mẫu mực đức trọng, tài cao”, mãi sáng ngời cho mọi thế hệ học sinh noi theo.

Truyền thống hiếu học của dân tộc đã thấm đẫm trong nhận thức của người Việt Nam, tiếp tục được kết tinh và tỏa sáng trong thời đại Hồ Chí Minh. Ngay sau khi giành được độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, ngày 03 – 9 – 1945, khi đề cập “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra sáu “vấn đề cấp bách hơn cả” trong đó có “vấn đề thứ hai là nạn dốt”. Nạn dốt làm cho hơn 90% đồng bào Việt Nam mù chữ; đó là sản phẩm của một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân đã dùng để cai trị chúng ta. Đó là một trong ba thứ giặc cần phải diệt. Bởi: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Hạnh phúc đầu tiên khi đất nước có nền độc lập là đồng bào được đi học, được thoát khỏi sự tăm tối của cuộc đời để đến với ánh sáng của thế giới tri thức, văn minh. Ngày 04 – 10 – 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục ra lời kêu gọi “chống nạn thất học” để khuyến khích toàn dân học tập. Chỉ trong vòng một năm đã có trên 2,5 triệu người biết chữ, đồng thời các hủ tục cũng dần được xóa bỏ. Hạnh phúc của thành quả đầu tiên ấy đã góp phần quan trọng xây dựng nền móng hệ thống giáo dục phổ thông, chuyên nghiệp, đại học, văn hóa, khoa học kỹ thuật của đất nước ngày nay.

Trong 94 năm lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn quan tập đặc biệt đến công tác giáo dục, đào tạo. Coi đây là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước và luôn bảo đảm điều kiện thuận lợi để mỗi người dân có cơ hội được thụ hưởng công bằng thành quả của nền giáo dục. Học tập không chỉ là nghĩa vụ thiêng liêng mà còn là quyền lợi cao cả của mọi công dân. Học tập không chỉ đem lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân, mà còn là hạnh phúc cho cả một dân tộc và toàn nhân loại./.

PHẨM CHẤT CON NGƯỜI, GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM LUÔN ĐƯỢC PHÁT HUY, LAN TỎA VÀ ĐƯỢC BẠN BÈ QUỐC TẾ ĐÁNH GIÁ CAO

     Các thế hệ con người Việt Nam luôn được thừa hưởng, di truyền những giá trị văn hóa và phẩm chất người từ dòng chảy văn hóa Việt Nam đầy tính nhân văn cao cả; từ truyền thống giữ nước và dựng nước của dân tộc Việt Nam. Càng trong thử thách của chiến tranh, bệnh dịch hay bão táp, nét đẹp văn hóa được hun đúc từ hàng ngàn năm lịch sử như tinh thần đoàn kết, truyền thống nhường cơm sẻ áo, lá lành đùm lá rách, tương thân tương ái của người Việt Nam lại càng sáng lên, trở thành động lực, sức mạnh giúp cả dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, gian lao. Đặc biệt, trong chống chọi với đại dịch Covid-19 và chỉ mới đây, khi Bão số 3 – tên quốc tế là Yagi tràn tới, bên cạnh sự chỉ đạo, hỗ trợ của Đảng, Nhà nước Việt Nam khắc phục hậu quả mưa lũ, sạt lở đất, thì dù ở bất cứ đâu, cũng thấy người dân chung tay sát cánh, đùm bọc, che chở lẫn nhau.

Không chỉ ca ngợi giá trị văn hóa tốt đẹp, bạn bè quốc tế còn khẳng định con người Việt Nam đôn hậu, thân thiện, họ đã chia sẻ những ấn tượng về văn hóa, con người Việt Nam, nổi bật là: “Khi tôi sang Việt Nam, tôi bị quên điện thoại trên xe taxi, lúc xuống tôi mới nhớ ra, vậy mà 2 tiếng sau, anh lái taxi đã tìm được tôi và trả lại điện thoại trong khi tôi đang lúng túng chưa biết làm thế nào”;“Khi tai nạn xảy ra trên đường, mọi người đều xuống xe và giúp đỡ nhau, và tôi thấy mọi người giúp đỡ nhau trong những khó khăn khác như trên xe buýt hoặc trên đường phố.” (Thái Sơn – Huy Văn tổng hợp đăng trên vovgiaothong.vn qua bài “Việt Nam 2022 trong mắt du khách quốc tế” – Chủ nhật 01/01/2023).

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ NGĂN CHẶN NHỮNG TIN ĐỒN THẤT THIỆT

     Một là, cơ quan nhà nước phải chủ động thông tin đúng đắn, chính xác. Để ngăn chặn những tin đồn thất thiệt, trước hết các cơ quan quản lý nhà nước phải nắm bắt thông tin một cách kịp thời, nhanh chóng có phát ngôn chính thống để bác bỏ các tin đồn thất thiệt. Khi có tin đồn thất thiệt thuộc lĩnh vực bộ, ngành nào quản lý, nhất thiết phải cử cơ quan chuyên ngành xác minh kịp thời, truy nguyên nguồn gốc, diễn biến hình thành tin đồn, đưa ra kết luận để công bố trước công luận, không thể để chậm trễ, nhằm chủ động ngăn chặn sự lan rộng của nó, hạn chế tác động tiêu cực. Nhanh chóng cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về sự kiện đang xảy ra tin đồn thất thiệt. Việc công bố có thể thực hiện ngay thông qua thông cáo báo chí trên các phương tiện truyền thông để mọi người dân nắm được. Đồng thời có những biện pháp xử lý kiên quyết những đối tượng cố tình tung tin đồn thất thiệt để trục lợi, phá hoại.

Hai là, cần hình thành, phát triển sự miễn dịch tâm lý đối với tin đồn thất thiệt trong quần chúng. Hình thành, phát triển sự miễn dịch tâm lý tức là phải xây dựng cho mỗi cá nhân cũng như cộng đồng xã hội một nền tảng vững về tri thức, làm tăng sức đề kháng, làm cho tin đồn thất thiệt không có đất tồn tại. Do vậy, các cấp, các ngành cần cung cấp thường xuyên, kịp thời, chính xác đường lối, quan điểm của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Yêu cầu thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội của địa phương; thông tin về những vấn đề nổi cộm, được dư luận quan tâm, chú ý; tình hình âm mưu, thủ đoạn của kẻ xấu… Không đưa tin mập mờ gây thắc mắc, tò mò, dễ hiểu nhầm. Báo chí và cơ quan chức năng cần thông tin, hướng dẫn, góp phần ổn định tâm lý xã hội, hình thành dư luận tích cực, củng cố niềm tin của công chúng. Chỉ khi công chúng tin vào báo chí và thông tin của các cơ quan chức năng, để tự định hướng và miễn dịch với thông tin ngoài luồng, không nguồn gốc, thì khi ấy, tin đồn thất thiệt dù có tai ác đến đâu cũng không thể thâm nhập và gây hại cho đời sống cộng đồng.

Ba là, phát huy vai trò của báo chí chính thống trong cuộc chiến chống tin đồn thất thiệt.  Một trong những lực lượng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin, định hướng dư luận xã hội đúng đắn là báo chí chính thống. Song song với việc nâng cao nhận thức, định hướng dư luận xã hội, báo chí chính thống cần nâng cao chất lượng nội dung thông tin, thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác và trực diện, nhất là đối với các sự kiện, sự việc “nóng”, được dư luận đặc biệt quan tâm. Nếu báo chí làm tốt chức năng, kịp thời thông tin đúng đắn tuyên truyền thì chắc chắn sẽ dẹp bỏ được những thông tin giả, thông tin thất thiệt. Thông tin giả, thông tin thất thiệt có đất sống hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc cung cấp thông tin chính thống của các cơ quan báo chí… Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn cho rằng: Báo chí hiện nay đang có tình trạng bị mạng xã hội dẫn dắt, cần phải làm sao để chính báo chí phải là hạt nhân dẫn dắt thông tin, định hướng những thông tin đúng trên mạng xã hội, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy tích cực để đẩy lùi tiêu cực, định hướng và tuyên truyền thông tin tốt, để thông tin tốt ngày càng phát triển và hạn chế nhiều hơn những thông tin xấu độc.

Bốn là, kiên quyết xử lý thích đáng những đối tượng tung tin đồn thất thiệt.

Việc tung tin thất thiệt nhất là thông tin xấu độc gây hoang mang dư luận xã hội là hành vi vi phạm pháp luật. Tùy thuộc vào nội dung, tính chất, mức độ, động cơ của hành vi, hậu quả của việc tung tin thất thiệt như thế nào sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý trách nhiệm hình sự. Theo Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín như sau: danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, người nào tung tin đồn thất thiệt xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của một tổ chức, cá nhân cụ thể thì tổ chức, cá nhân đó có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu người tung tin đồn phải xin lỗi và bồi thường thiệt hại đồng thời còn có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức. Điều 258 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 về  “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” có quy định: “Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.”

TÁC HẠI CỦA NHỮNG TIN ĐỒN THẤT THIỆT

     Tin đồn thất thiệt là những tin đồn không có thật, hoặc những tin đồn được xem là những lý giải chưa được kiểm chứng về một sự kiện, hiện tượng, tình huống, hay vấn đề mà công chúng quan tâm, và được truyền từ người này sang người khác. Đồng thời, tin đồn thất thiệt là những thông tin được truyền cho nhau một cách không chính thức, chưa nắm rõ nguồn gốc, chưa được bảo đảm về tính chính xác mà lại được nhiều người quan tâm. Vì vậy, tin đồn thất thiệt thường được hiểu theo nghĩa tiêu cực và được một số người sử dụng phục vụ cho mục đích xấu.

Hệ lụy của tin đồn thất thiệt tác động trực tiếp đến tâm lý, gây căng thẳng trong nhân dân, nhất là những tin đồn ở thời điểm nhạy cảm, gắn với những sự kiện làm rung động thế giới như động đất, sóng thần, ví dụ như, tin đồn mưa axít, mây phóng xạ đã khiến nhiều người bỏ bê công việc, học hành, không dám ra đường. Tin đồn ngân hàng đổi tiền khiến nhiều người tìm cách mua vàng tích trữ và lo lắng lạm phát. Tin đồn sập cầu khiến nhiều người không dám qua cầu, họ cũng tìm cách ngăn chặn con em mình đi qua cầu. Tin đồn ăn bưởi, ăn hạt dưa, trứng, ớt, ăn cá rô đầu vuông bị ung thư cũng làm nhiều người tẩy chay thực phẩm…

Tác động xã hội của tin đồn thất thiệt còn kéo theo nhiều hệ lụy, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống người dân: lao động bị đình trệ, đứt nghẽn các hoạt động hành chính, kinh tế. Nhà sản xuất cũng bị tác động mạnh, thậm chí nhiều doanh nghiệp rơi vào phá sản vì hàng hóa ế đọng, không thể tiêu thụ, trong khi người dân điêu đứng (như tin đồn trứng gà giả, thực phẩm chứa chất gây ung thư). Hay tin đồn ăn bưởi bị ung thư ở đồng bằng sông Cửu Long cũng khiến người trồng bưởi ở đây nợ nần ngân hàng chồng chất vì bưởi đến mùa thu hoạch mà không ai mua. Về mặt an ninh, tin đồn có thể gây bất ổn định, tạo ra tâm lý lo lắng. Tại thủ đô Manila của Philippines, nơi khởi nguồn tin đồn mưa axít khiến toàn bộ số thuốc Betadine tại các hiệu thuốc bị vét sạch, một trường đại học phải tạm ngừng giảng dạy do lo lắng. Rõ ràng, tin đồn thất thiệt ngày nay là một dạng “chiến tranh tâm lý” rất nguy hiểm. Các thế lực thù địch và những đối tượng xấu còn sử dụng tin đồn thất thiệt như một thứ “vũ khí” lợi hại để tấn công, hòng gây nhiễu loạn an ninh xã hội.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU “CÂY XANH GÃY ĐỔ DO BÃO CÓ SỰ GÓP CÔNG CỦA CÁN BỘ THAM NHŨNG”

     Mới đây, cơn bão số 3, năm 2024 có tên là Yagi đổ bộ vào miền Bắc nước ta, để lại những hậu quả nghiêm trọng với nhiều mất mát, đau thương về con người, nhà cửa, các cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, nhất là những thiệt hại về nông nghiệp như: hoa màu và cây ăn quả, cây xanh,…trên đường phó, đường quốc lộ, tỉnh lộ, mọi nẻo đường thôn quê, nông thôn, miền núi…đều có cây xanh gãy đổ. Lợi dụng vào vấn đề này trên trang Vietnamthoibao, Minh Hải có bài viết với tiêu đề “25.000 cây xanh ngã đổ nhờ công của cán bộ tham nhũng”, nội dung phản ánh về Hà Nội có hàng vạn cây xanh ngã đổ, nhiều thương tiếc và cũng nhiều khó khăn bởi sự thật đã chứng minh cây gãy đổ có một phần “góp công” không nhỏ từ những cán bộ tham nhũng,… Những lời lẽ vu khống, bôi nhọ trên đã khơi dậy sự hoài nghi của nhân dân và tạo dư luận không tốt về công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền trong vấn đề trồng cây xanh, để tạo cảnh quan môi trường xanh – sạch – đẹp ở các khu đô thị.

Hiện nay, đất nước chúng ta đang trải qua quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, với sự gia tăng không ngừng của các nhà máy, cơ quan, xí nghiệp, và các cơ sở sản xuất cũng như sự đô thị hóa nhanh. Vấn đề ô nhiễm môi trường trở nên không thể tránh khỏi. Dưới sự tác động và phát triển của con người, các yếu tố thiên nhiên và tự nhiên đang dần biến mất. Khí hậu biến đổi, thời tiết bất thường, cùng với nhiều nguồn ô nhiễm như nguồn nước bị ô nhiễm, rác thải, khói bụi, và tiếng ồn đang gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe, đặc biệt là về tinh thần cho con người.

Hà Nội trái tim của cả nước, cũng không nằm ngoài quy luật của quá trình đô thị hóa như đã nêu trên và chủ trương trồng cây xanh tạo cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp trên các tuyến phố của Thủ đô đã được triển khai đồng bộ với quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế, xã hội. Nhưng sau khi siêu bão Yagi đổ bộ vào Việt Nam với sức gió giật lên đến cấp 10, cấp 11 đã làm cho hệ thống cây xanh của Thủ đô gãy, đổ, nhiều cây xanh gãy, đổ thuộc các loài lát, bàng, sấu, bằng lăng, keo…, vốn là cây trồng phù hợp lấy bóng mát ở đô thị, có sức chịu gió tốt . Những trường hợp thiên tai như “siêu bão”  Yagi khiến cây xanh ngã đổ hàng loạt tại Hà Nội và nhiều địa phương khác là vấn đề không thể tránh khỏi, và nó cũng không chỉ xảy ra tại Việt Nam. Khi cơn bão Yagi đổ bộ vào tỉnh Hải Nam, Trung Quốc cũng để lại hậu quả nghiêm trọng, theo thống kế của Chính quyền tỉnh Hải Nam, Trung Quốc, ngày 8/9 cho biết bão Yagi đã khiến 4 người thiệt mạng, 95 người bị thương và gây ảnh hưởng tới hơn 526.000 người. Bão gây thiệt hại 11,9 tỷ Nhân dân tệ (khoảng 1,67 tỷ USD) cho ngành nông, ngư nghiệp tỉnh Hải Nam, trong đó hơn nửa là thiệt hại về ngành đánh bắt cá. Yagi còn gây thiệt hại mùa màng với phạm vi khoảng 94.200 ha. Để nhanh chóng khôi phục trật tự sau bão, 61.000 công nhân vệ sinh và 6.300 xe chở rác đã được huy động để dọn dẹp trên khắp Hải Nam. 14.000 tấn rác do bão gây ra đã được dọn sạch, khoảng 142.000 cây đổ trên toàn tỉnh đã được di dời. Điều này cho thấy rằng việc cây xanh ngã đổ trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt không phải là vấn đề riêng của Việt Nam, mà là một thách thức chung của các đô thị trên toàn thế giới.

Việc cây xanh bị ngã đổ trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt như bão là điều không thể tránh khỏi, ngay cả khi tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật. Như vậy, có một số quan điểm cho rằng việc trồng cây xanh tại các đô thị ở Việt Nam là làm lấy lệ, không tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật và dẫn đến cây ngã đổ hàng loạt. Đây là quan điểm phiến diện và thiếu sự hiểu biết về các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật tại Việt Nam.

Trước những luận điệu xuyên tạc, vu khống cán bộ lợi dụng vấn đề trồng cây xanh đô thị để tham nhũng là những lời lẽ thâm độc của các thế lực thù địch, phản động. Chúng lợi dụng vào những vấn đề này để vu khống, dựng chuyện “biến không thành có”, “biến có thành không”. Do vậy, chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không dao động tư tưởng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động./.

KẺ NÀO ĐANG PHÁT ĐỘNG CHỦ NGHĨA DÂN TỘC CỰC ĐOAN Ở VIỆT NAM?

     Trong khi cả nước đang hướng về vùng lũ ở phía Bắc, chung tay khắc phục thiệt hại hậu quả cơn bão số 3 Yagi gây ra, sẻ chia những mất mát, khó khăn của đồng bào, góp sức giúp nhân dân các địa phương vùng bị ảnh hưởng sớm ổn định đời sống, khôi phục sản xuất, kinh doanh. Thay vì chia sẻ, động viên, thể hiện truyền thống đạo lý của dân tộc thì, Đặng Đình Mạnh lại vui mừng, nhảy múa trên nỗi đau của người dân tộc Việt Nam. Tiếp tục chiêu bài “gắp lửa bỏ tay người”, “đánh tráo đối tượng”, với bài viết “Chiến dịch phát động chủ nghĩa dân tộc cực đoan” đăng trên facebook Hội những người cầm bút can đảm. Y cho rằng chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang hình thành ở Việt Nam như một chiến dịch được phát động. Sự thật là gì, ai mới là người đang âm mưu thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc cực đoan ở Việt Nam hiện nay.

Xâu chuỗi các hoạt động mang tinh thần yêu nước của người dân Việt Nam trong thời gian qua, như vẽ cờ Tổ quốc, phản ứng của người dân khi một số nghệ sĩ biểu diễn ở nước ngoài dưới lá cơ 3 sọc; hay việc Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức sơ kết 5 năm thực hiện Đề án, “Quân đội phòng chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa”, … Đặng Đình Mạnh cho rằng đấy là chiến dịch phát động chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Mà lạ thay, y lại khẳng định chiến dịch ấy không phải do Đảng Cộng sản Việt Nam phát động, mà lại cho rằng người phát động là “những kẻ hưởng lợi”. Bằng chiêu trò, dương đông, kích tây, bằng bài viết của mình y cố tình chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam; chia rẽ mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt của Nhân dân với Quân đội; tạo mâu thuẫn giữa lực lượng vũ trang với Đảng, Nhà nước và đặc biệt là xuyên tạc mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Những giọng điệu xuyên tạc của Đặng Đình Mạnh không thể phủ nhận sự thật ở Việt Nam hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang một lòng, một dạ, cùng nhau ra sức phấn đấu xây dựng đất nước Việt Nam ngày một tươi đẹp hơn. Dân tộc Việt Nam có thể sánh vai với các cường quốc năm Châu như mong muốn của Bác Hồ kính yêu. Qua thiên tai, bão lũ lòng nhân ái – một giá trị cốt lõi trong văn hóa dân tộc Việt Nam đã được hiện hữu. Nó biểu hiện sức mạnh đoàn kết, thương yêu lẫn nhau của dân tộc Việt. Những hình ảnh cao đẹp đó, là biểu tượng của tình người ấm áp, sâu sắc trong lòng dân tộc Việt Nam, thể hiện tinh thần “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân”.

Tinh thần đoàn kết là một nét đặc trưng của dân tộc Việt Nam, được hiện thực hóa qua sự chung tay hỗ trợ và chia sẻ khó khăn, không để ai bị bỏ lại phía sau. Đây là những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam cần được gìn giữ và phát huy, không chỉ trong lúc khó khăn mà trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống./.

ÂM MƯU THÚC ĐẨY CHỦ NGHĨA DÂN TỘC CỰC ĐOAN Ở VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

     Trong những năm qua, các thế lực thù địch bên ngoài luôn tìm cách kích động gây hiềm khích giữa dân tộc Việt Nam và các nước xung quanh để từ đó trục lợi. Có thể thấy, trong xã hội Việt Nam, đang hình thành một lớp người rất định kiến, hẹp hòi khi nhìn nhận, đánh giá về các dân tộc, quốc gia mà Việt Nam đã có quan hệ đối ngoại, trong đó có Đặng Đình Mạnh. Y đang cố tình xuyên tạc mối quan hệ hết sức tốt đẹp giữa Việt Nam và Trung Quốc, cố tình lái dư luận đến cách hiểu sai trái, nguy hiểm rằng Việt Nam “đang lệ thuộc Trung Quốc” và đòi hỏi rất vô lý rằng phải “thoát Trung” cả về chính trị và kinh tế.

Các thế lực thù địch tiếp tục kích động nhân dân yêu sách thành lập nhà nước riêng của mình như “Vương quốc Mông độc lập” ở vùng Tây Bắc, “Nhà nước Đề ga tự trị” ở Tây Nguyên và “Vương quốc Kh’mer Crom” ở Tây Nam bộ. Chúng sử dụng chiêu bài kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan làm “ngòi nổ”, kích động, lôi kéo, xúi giục một bộ phận nhân dân nhẹ dạ, cả tin, kém hiểu biết đề cao chủ nghĩa dân tộc cực đoan nhằm gây rối, bạo loạn, đòi thành lập các “nhà nước tự trị” của riêng mình; ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội thời gian qua.

Truyền thống hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta gắn liền với tinh thần đoàn kết, chung vai sát cánh bên nhau chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước của chung các dân tộc, không phân biệt người Kinh hay Mường, H’Mông hay Châu Mạ, Thổ hay Khơme,…; không phân biệt đồng bào miền xuôi hay miền ngược. Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh, nhân dân đã phải đổ nhiều máu xương đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Lợi ích quốc gia, dân tộc là các mục tiêu mà Việt Nam luôn theo đuổi để bảo đảm sự tồn tại và phát triển của mình, những lợi ích này chỉ có thể đạt được trọn vẹn trong một môi trường hòa bình, ổn định; chỉ có thể thực hiện được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong điều kiện hòa bình, hợp tác, đoàn kết các dân tộc anh em để phát triển. Bởi thế, mỗi người cần tỉnh táo để nhận rõ âm mưu thâm độc của Đặng Đình Mạnh và các thế lực thù địch đang dã tâm phá hoại mối quan hệ đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế quốc tế, âm mưu kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, ngăn cản mỗi quan hệ đoàn kết của các dân tộc Việt Nam và ngăn cản sự phát triển của đất nước ta trong tiến trình hội nhập quốc tế./.

ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ KHÁT VỌNG CỦA NHÂN DÂN TA, SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN, PHÙ HỢP VỚI XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ

     Thực tiễn lịch sử Việt Nam trong hơn một thế kỷ qua cho thấy, tiến lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu khách quan của dân tộc là chân lý, động lực xuyên suốt của cách mạng Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là vấn đề cốt lõi, tất yếu, gắn liền với vận mệnh của dân tộc.

Xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một xuất phát điểm thấp và phải trải qua những tàn phá nặng nề của chiến tranh là một sự nghiệp khó khăn, gian khổ và lâu dài. Bên cạnh đó, đổi mới đất nước là sự nghiệp chưa có tiền lệ, vừa học, vừa làm, vừa tổng kết, vừa rút kinh nghiệm, bổ sung, phát triển lý luận. Đảng ta luôn kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam đã phát huy sức mạnh, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc để đất nước ta phát triển; chưa bao giờ có tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Đây là là tiền đề, động lực và sức để cách mạng Việt Nam vững bước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội; là cơ sở, nền tảng vững chắc để củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, là  nhân tố quan trọng để xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”; đồng thời, là minh chứng bác bỏ những xuyên tạc của các phần tử chống đối, thù địch./.

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN MÃI LÀ NGỌN ĐÈN SOI SÁNG CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG CHO NHÂN DÂN LAO ĐỘNG TOÀN THẾ GIỚI

     Sở dĩ chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn có sức sống lâu bền và giá trị to lớn bởi nội dung của nó mang tính cách mạng và khoa học sâu sắc. Những người sáng lập chủ nghĩa Mác – bằng thiên tài của mình đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để luận giải một cách khoa học về quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, đặc biệt là học thuyết về hình thái kinh tế – xã hội; về quá trình phát sinh, phát triển và sự tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản; về vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong đấu tranh nhằm xây dựng một xã hội tương lai tốt đẹp.

 Năm 1995, một đại hội quốc tế về C.Mác đã được tổ chức tại Pari quy tụ hơn 500 đại biểu là những nhà chính trị, nhà lý luận trên thế giới đã thừa nhận “C.Mác vẫn là biểu tượng của sự phủ nhận trật tự đang thống trị và tư tưởng của C.Mác vẫn giữ nguyên tầm quan trọng của nó trong thế giới hiện đại”. Nhà triết học tư sản đương đại người Pháp Giắc Đeriđa (Jacques Derrida) trong tác phẩm Những bóng ma của Mác đã khẳng định “Không có tương lai nếu không có Mác, không có các di sản của Mác…Mác là nhà tư tưởng của thế kỷ XXI”.

Trong tác phẩm xuất “tại sao Mác đúng”, T.Eagleton đã chỉ nhận định: chủ nghĩa tư bản dù có lúc đạt được hiệu quả nhưng nó đã làm được điều đó bằng cái giá kinh hoàng của nhân loại. Đó là sự mất tự do được ngụy tạo bằng tự do, là bất công trong tình cảnh phân biệt giàu nghèo gia tăng, là nạn diệt chủng và phân biệt chủng tộc, là cưỡng bức, tước đoạt, áp đặt, tìm kiếm lợi nhuận bằng mọi giá, đó là sự “vô trách nhiệm với sự tồn vong của nhân loại. Tức là con đường TBCN đang đi cũng là đang đe dọa phá hủy toàn bộ hành tinh này”.

Điều đó khẳng định cho mặc dù thế giới có nhiều đổi thay, chủ nghĩa Mác – Lênin luôn là ngọn đèn soi sáng con đường cách mạng cho nhân dân lao động toàn thế giới.

QUAN NIỆM DÂN TỘC BẢN ĐỊA KHÔNG TỒN TẠI Ở VIỆT NAM

     Thời gian gần đây, các phần tử có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, cực đoan trong và ngoài nước đã lợi dụng bản “Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc bản địa” của Liên hợp quốc để vận động các quốc gia phương Tây, các tổ chức quốc tế công nhận ở Việt Nam có “dân tộc bản địa”. Đồng thời, kích động các dân tộc thiểu số, nhất là người Thượng ở Tây Nguyên đòi quyền tự quyết. Điển hình là trên trang Quyenduocbiet, BPSOS, viết: “Người Thượng là Dân Tộc Bản Địa và phải được công nhận như vậy”, cho rằng, người Thượng và người Hmong theo đạo Cơ đốc, người, người Chăm theo đạo Hồi và người Khmer Krom theo đạo Phật, người thiểu số, nhất là người Thượng ở Tây Nguyên Việt Nam là “người bản địa”. Vì vậy, BPSOS kêu gọi Liên hợp quốc yêu cầu Việt Nam công nhận điều này và không được phân biệt đối xử, bỏ rơi người bản địa. Đây thật sự là hành động nhằm gây mất ổn định chính trị – xã hội, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đi tới phá vỡ sự toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước của dân tộc ta.

Cần hiểu rằng, khái niệm “người bản địa” có nguồn gốc lịch sử, gắn liền với thời kỳ chủ nghĩa thực dân, đế quốc tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược, áp đặt sự thống trị của họ ở các quốc gia chậm phát triển. Chiến lược di dân, khai thác thuộc địa của họ đã dẫn đến sự phân hoá, hình thành 2 nhóm hay 2 tầng lớp xã hội ở những quốc gia này: Nhóm thứ nhất, là tầng lớp những người nước ngoài, bao gồm “các quan cai trị” cùng với những người di cư đến đây làm ăn họ có mối quan hệ mật thiết với bộ máy cai trị của thực dân, tầng lớp này thuộc đẳng cấp có nhiều đặc quyền, đặc lợi. Nhóm thứ hai, là cộng đồng những người dân thuộc địa còn lại được gọi là những “người bản địa” hoặc “người bản xứ”, thuộc đẳng cấp thấp hèn. Ở Việt Nam, dưới sự cai trị của thực dân Pháp, 54 tộc người trong cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam đều được gọi chung là những tên An-nam-mít (Annammit) với nghĩa miệt thị, khinh bỉ đều được coi là người bản địa. Như vậy là, khái niệm “người bản địa” chỉ mới ra đời ở Việt Nam từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân và nó chỉ tồn tại dưới chế độ đó. Song, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nước Việt Nam đã giành được độc lập, thống nhất đất nước, nhà nước Việt Nam là Nhà nước của tất cả các dân tộc Việt Nam, thì khái niệm “người bản địa” và “quyền của người bản địa” đã lùi về quá khứ. Thay cho khái niệm đó là khái niệm “quyền công dân” – là quyền của tất cả mọi người dânViệt Nam, không phân biệt họ là dân tộc thiểu số hay đa số. Đó là một sự thật lịch sử, không ai có thể bác bỏ được.

Hiến pháp Việt Nam năm 2013 ghi rõ: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Nhà nước thực hiện chính sách về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số là sự nghiệp chung của nhân dân cả nước, của nhân dân các dân tộc không phân biệt là dân tộc đa số hay thiểu số. Vì lợi ích trực tiếp của nhân dân các dân tộc thiểu số, đồng thời, vì lợi ích chung của cả nước, các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ là một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Chính sách dân tộc thể hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Thực hiện chính sách dân tộc là trách nhiệm chính trị của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Vì vậy, phải tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đại đoàn kết toàn dân tộc. Như vậy, không bao giờ có chuyện phân biệt, kỳ thị, ngược đãi, bỏ rơi người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

Tuyên ngôn về quyền của người bản địa là một văn kiện rất đáng trân trọng. Song, chúng ta cần tỉnh táo, bảo vệ những giá trị cao quý của nó, đồng thời không để cho các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, lợi dụng, phục vụ cho những mưu đồ xấu xa, thâm độc của họ./.

CHỦ ĐỘNG NHẬN DIỆN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ CÔNG TÁC NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG

     Thực hiện chương trình làm việc toàn khóa, Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp ngày 18 tháng 9 năm 2024, trong thời điểm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang quyết tâm  thực hiện thắng lợi toàn diện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; cơn bão số 3 gây thiệt hại hết sức nặng nề về người và tài sản ở hầu hết các tỉnh, thành phố phía Bắc; toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang tập trung nỗ lực cao nhất để khắc phục hậu quả do cơn bão gây ra… Hội nghị Trung ương đã họp, thảo luận, cho ý kiến về 10 nội dung thuộc 2 nhóm vấn đề chiến lược và một số việc cụ thể. Trong đó, nhấn mạnh Đại hội XIV là Đại hội đánh dấu thời điểm đất nước bước vào kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tuy nhiên, ngay sau khi Hội nghị Trung ương 10 (khóa XIII) khai mạc , trang “Bbc.com” Nhật Bấc đăng nội dung: “Hội nghị Trung ương 10: có gì đáng chú ý về nhân sự?”; “lãnh đạo trong nước chỉ được sử dụng để cạnh tranh quyền lực”. Chúng rêu rao rằng, “Tiểu ban Nhân sự Đại hội là cửa soát vé quan trọng nhất” của Trung ương Đảng về vấn đề nhân sự trước mỗi kỳ đại hội. Với mục đích không thay đổi là chống phá, xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, câu view, câu like, thu hút sự quan tâm, chú ý của dư luận xã hội.

Thực tế cho thấy, Đảng, Nhà nước ta rất chú trọng đến công tác nhân sự thông qua việc quy hoạch, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm cán bộ nhằm tạo điều kiện cho cán bộ sâu sát với thực tiễn, rèn luyện năng lực, bản lĩnh ở nhiều vị trí công tác khác nhau. Quá trình quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động cán bộ luôn được thực hiện một cách công khai, minh bạch, theo quy trình cụ thể, rõ ràng, đảm bảo tính kế thừa, không bị chi phối bởi bất cứ thế lực nào, không bị thay đổi như các thể chế khác. Tại Điểm 2 và Điểm 3, Điều  41, Chương IX của Điều lệ Đảng quy định: “Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ”, “Đảng giới thiệu cán bộ đủ tiêu chuẩn để ứng cử hoặc bổ nhiệm vào cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội”. Gần đây nhất, ngày 14/6/2024, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Chỉ thị nêu rõ: Công tác nhân sự phải bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, cấp ủy các cấp và đề cao vai trò, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và người đứng đầu theo quy định. Bảo đảm sự kế thừa, đổi mới và phát triển liên tục của đội ngũ cán bộ; đề cao, coi trọng chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý, tăng cường ở các vị trí, địa bàn, lĩnh vực quan trọng, trọng yếu. Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra và bế mạc chiều 20/9. Về phương hướng công tác nhân sự, Trung ương thống nhất với Tờ trình, Báo cáo tổng kết công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và xây dựng phương hướng nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, giao Tiểu ban Nhân sự nghiêm túc tiếp thu ý kiến của Trung ương, hoàn chỉnh Phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV để ban hành theo quy định.

Cần khẳng định rằng những luận điệu của các thế lực phản động đăng tải trên mạng xã hội là hoàn toàn bịa đặt, vu khống. Dù chúng có những chiêu trò, âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt đến đâu thì cũng không thể xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, không thể bôi nhọ các đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước. Mọi chiêu trò xuyên tạc của Nhật Bấc chỉ tốn công, vô ích. Bởi lẽ, tất cả nhân dân Việt Nam đều suy nghĩ và nhận thức rằng; Với những cán bộ, đảng viên liêm chính thì dù làm ở vị trí nào, giữ cương vị gì, họ cũng đều có một mục đích chung là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc. Họ đều làm việc, cống hiến vì nước, vì dân, xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trước sự chống phá ngày càng ráo riết của các thế lực thù địch, nhất là việc suy diễn, xuyên tạc, bôi nhọ, hướng lái dư luận vào công tác nhân sự, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân cần chủ động nhận diện, tránh bị lôi kéo vào những thông tin mập mờ, nhiễu loạn. Đồng thời tích cực tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA KẺ BỊ ĐẶT VỀ TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

     Mới đây, trên trang Doithoaionline trong bài viết “20 năm thất bại của nghị quyết 36”, Phạm Trần cho rằng: “Điều 4 của Luật Báo chí 2016 cũng xác nhận tính “độc quyền” của nhà nước;… nhân dân đã bị loại khỏi hàng ngũ người có quyền được hành nghề báo chí; người làm báo trong chế độ CSVN chỉ là tay sai của đảng”. Đây thực chất là một luận điệu “bịa đặt” cố tình “xuyên tạc”, bóp méo sự thật về tự do ngôn luận, tự do báo chí, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Trong Điều 25 Hiến pháp năm 2013, xác định rất rõ: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình; việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. Luật Báo chí số 27/VBHN-VPQH ngày 10/12/2018 của Văn phòng Quốc hội, quy định rõ: Luật này quy định về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; tổ chức và hoạt động báo chí; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan đến hoạt động báo chí; quản lý nhà nước về báo chí. Theo đó, tại Điều 4 xác định: Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân. Trong Điều 10 cũng quy định rõ về quyền tự do báo chí của công dân như: Sáng tạo tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí; liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; in, phát hành báo in. Điều 13 xác định: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng.

Thực tế cho thấy, trên thế giới, không có tiêu chuẩn chung nào áp dụng cho tự do báo chí của tất cả các nước. Nhiều nước phương Tây đều có những quy định riêng rất chặt chẽ về hoạt động báo chí, như: Mỹ, Anh, Pháp, Italia,… Ở Việt Nam, trên cơ sở hành lang pháp lý của Hiến pháp và Luật Báo chí, những năm qua, sự phát triển mạnh mẽ của của hệ thống báo chí, truyền thông và đời sống báo chí ở nước ta ngày càng phát triển mang tính chuyên nghiệp, sôi động và hiệu quả, đã phản ánh rõ nét những thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Việt Nam đã và đang thực hiện nghiêm túc các cam kết về vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí theo Hiến chương Liên hợp quốc và các nghị định, hiếp ước quốc tế, khu vực liên quan. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương, chính sách tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tiếp cận thông tin, tự do internet… Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, đến năm 2023, cả nước đã có 6 cơ quan truyền thông đa phương tiện, 127 cơ quan báo chí, 671 cơ quan tạp chí, 72 cơ quan đài phát tranh, truyền hình. Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí khoảng 41.000 người, tăng gấp 6 lần so với năm 2000. Các nhà báo quốc tế luôn được Chính phủ Việt Nam tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác nghiệp; các nhà báo Việt Nam được tạo điều kiện học tập, trao đổi, hợp tác về báo chí trong và ngoài nước; mạng xã hội cũng là một kênh thông tin tham gia mạnh mẽ vào môi trường truyền thông ở Việt Nam; mọi người dân đều được quyền phát ngôn, thảo luận các vấn đề của đời sống. Tự do báo chí ở Việt Nam luôn lấy mục tiêu cao cả nhất đó là phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Những kết quả trên đây là minh chứng rõ nét cho việc phát triển mạnh mẽ các cơ quan báo chí, truyền thông và tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam luôn được bảo đảm.

Vì vậy, những luận điệu của Phạm Trần nêu trên là hoàn toàn “bịa đặt”, “xuyên tạc” về tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam, chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nâng cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái này./.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM DUY NHẤT LÃNH ĐẠO NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI LÀ TẤT YẾU KHÁCH QUAN

Gần đây, Đinh Hoàng Thắng với bài viết gọi là “Nếu Việt Nam thực sự muốn phát triển” được đăng trên trang Hung-vietorg. Thắng và đồng bọn với “góc nhìn lệch” của những kẻ tiểu nhân khi phán xét đường lối ngoại giao mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, chúng cũng không quên gợi ý về “cửa sổ cơ hội”  cứu giúp “chế độ độc tài” cải tổ dân chủ hóa ở Việt Nam. Sự thật là: Ở Việt Nam không cần đến “cửa sổ cơ hội”, bởi ở Việt Nam không có cái gọi là “chế độ độc tài”. Không phải cứ một đảng lãnh đạo là độc tài, có nhiều đảng là dân chủ hơn. Bởi đất nước có dân chủ hay phát triển không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng mà phụ thuộc vào đảng cầm quyền đó có mang bản chất cách mạng, tiên phong hay không, có bảo vệ quyền và lợi ích cho đa số nhân dân lao động hay chỉ cho một bộ phận thiểu số người trong xã hội đó.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định đảm bảo cho xã hội Việt Nam được từng bước phát triển bền vững vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Những thành tựu đã đạt được, cũng như thực tiễn sinh động về hoạt động đối ngoại của Việt Nam là minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, bóp méo trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam”, phủ nhận sự vu khống về tình hình dân chủ ở Việt Nam. Từ đó, củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; củng cố sự tin cậy của bạn bè quốc tế và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới đối với Việt Nam; góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, vững bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./. 

ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO “CÂY TRE VIỆT NAM” THẤM ĐƯỢM TÂM HỒN, CỐT CÁCH VÀ KHÍ PHÁCH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

     Ngoại giao “cây tre Việt Nam” được Đảng Cộng sản Việt Nam phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy bản sắc, truyền thống dân tộc, tiếp thu chọn lọc tinh hoa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, đang thực hiện với những đóng góp quan trọng vào thành tựu phát triển chung của đất nước. Đó là vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo, nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo, nhưng rất bản lĩnh, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân; đoàn kết, nhân ái, nhưng luôn luôn kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc.

Đánh giá về điều này, ông Sandeep Arya – Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam bày tỏ: “Với góc nhìn của các nhà ngoại giao quốc tế và tôi với tư cách là nhà ngoại giao, đại diện của một quốc gia nước ngoài tại Việt Nam rất thấm thía và ấn tượng về điều này. Trường phái ‘ngoại giao cây tre” rất phù hợp trong bối cảnh hiện này khi thế giới có nhiều biến động, các quốc gia phải linh hoạt ứng phó hiệu quả với những biến đổi của tình hình. Đây là bài học quý, có ý nghĩa giá trị thực tiễn sâu sắc”.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU TRONG BÀI VIẾT “NHÂN DÂN CÓ GIÁM SÁT ĐƯỢC ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM”? CUẢ LÊ BÁ VẬN

     Vừa qua, trên trang Doithoaionline Lê Bá Vận, đăng bài viết: “Nhân Dân có giám sát được Đảng Cộng sản Việt Nam?”. Với luận điệu hết sức phản động, chứa đựng nhiều mẫu thuẫn đánh giá, nhận xét mang tính hồ đồ, chủ quan, áp đặt, khi cho rằng: “Lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đấu đá giành quyền lực. Nhân dân xầm xì đồn đoán mà không ngờ có quyền giám sát theo hiến định”. Cần khẳng định:

“Đảng chịu sự giám sát của nhân dân” là quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam, được khẳng định trong các cương lĩnh, nghị quyết và được thể chế, cụ thể hóa trong các quy định của Đảng và Nhà nước. Từ lý luận đến thực tiễn sinh động, quan điểm này đã trở thành một giải pháp quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khơi nguồn sức mạnh xây dựng và phát triển đất nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) nêu rõ: “Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Từ đó đến nay, Văn kiện các Đại hội Đảng đều khẳng định: Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Văn kiện Đại hội XIII yêu cầu: Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội VII quy định: “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ và chịu sự giám sát của nhân dân, đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng”. Điều lệ Đảng được thông qua tại các Đại hội VIII, IX, X, XI và hiện đang thi hành đều xác định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng”. Hiến pháp năm 2013 hiến định tại Điều 4: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”, đồng thời hiến định chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tại Điều 9. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh: “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” là một trong tám đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời yêu cầu: Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội.

Thực tế cho thấy, “Đảng chịu sự giám sát của nhân dân” vừa phát huy tốt chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp, vừa thực hiện hiệu quả chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở. Cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cần thống nhất nhận thức, hành động, thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm góp phần xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; luôn đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ đảng viên đủ phẩm chất và năng lực ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng thời kỳ mới. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nêu cao cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động./.

TỰ DO NGÔN LUẬN Ở VIỆT NAM ĐƯỢC ĐỀ CAO VÀ BẢO ĐẢM THEO PHÁP LUẬT

     Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận được ghi nhận ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp năm 1946): “Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận” (Điều 10), và tiếp tục được kế thừa trong các bản Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980. Tại điều 25, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận”, “việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định Đảng và Nhà nước luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do ngôn luận của công dân.

          Thực tiễn đời sống ở Việt Nam những năm qua cho thấy, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Đặc biệt, kể từ khi hòa mạng Internet toàn cầu (năm 1997), Việt Nam liên tục thiết lập những kỷ lục mới, bảo đảm quyền tự do ngôn luận, báo chí, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu tìm kiếm, trao đổi, thụ hưởng thông tin mọi lúc, mọi nơi của người dân cả trên các phương tiện truyền thông đại chúng, cũng như truyền thông xã hội. Người dân Việt Nam có thể dễ dàng truy cập vào tất cả các trang web, báo chí trên thế giới; có thể bày tỏ mọi suy nghĩ, trăn trở, mong muốn chính đáng, hợp pháp, bảo đảm thuần phong mỹ tục, mà không gặp phải bất cứ sự hạn chế, ngăn chặn, cấm đoán nào. Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm chăm lo thực hiện tốt quyền tự do cơ bản của con người, của công dân, trong đó có tự do ngôn luận, nhưng đi kèm với đó phải là kỷ luật, kỷ cương, pháp luật. Tạo mọi điều kiện tốt nhất để công dân thực hiện quyền tự do, trong đó, có tự do ngôn luận nhưng với những hành vi lợi dụng tự do ngôn luận để làm những điều trái luật, làm phương hại danh dự, nhân phẩm người khác; gây tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc… thì phải nghiêm trị theo pháp luật.

QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN KHÔNG PHẢI LÀ QUYỀN TỰ DO TUYỆT ĐỐI

     Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến” (Điều 19) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận” (Điều 19).

Tự do ngôn luận là quyền cơ bản, song nó không tách rời với trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân, được quy định trong luật pháp quốc tế và pháp luật quốc gia. Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 khẳng định: “Khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm mục đích bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như nhằm đáp ứng những nhu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và lợi ích chung của một xã hội dân chủ” (khoản 2 Điều 29) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 tiếp tục khẳng định: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội” (khoản 3 Điều 19).

 Như vậy, tự do quyền ngôn luận không phải là quyền tự do tuyệt đối, mà nó còn bị giới hạn bởi các yếu tố như luật pháp, phong tục tập quán, đạo đức xã hội. Nếu để tự do tuyệt đối nghĩa là tự do vô chính phủ, tự do kiểu hoang dã, ai cũng nói năng, phát ngôn bừa bãi, xuyên tạc sự thật, bịa đặt, chia sẻ thông tin không kiểm chứng, bất chấp đúng sai sẽ dẫn đến tình trạng mất kiểm soát, gây rối loạn xã hội, nhiễu loạn thông tin, có thể tạo ra khủng hoảng thông tin xã hội, dẫn đến bất ổn định an ninh trật tự xã hội.

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2024

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG 47 TRONG ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, với sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin, các thế lực thù địch đã lợi dụng không gian mạng để đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và quân đội ta. Trước tình hình đó, ngày 08/01/2016 Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đã ra Chỉ thị số 47-CT/TCCT Về tổ chức lực lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội (gọi tắt là lực lượng 47). Thời gian qua, lực lượng 47 trong toàn quân đã hoạt động đúng tôn chỉ mục đích, đạt hiệu quả cao, được Đảng, Nhà nước, Quân đội ghi nhận và đánh giá cao.

Lực lượng 47 ở các cơ quan báo chí Quân đội đã thành lập nhiều chuyên trang, chuyên mục phòng, chống “Diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kịp thời đăng tải hàng nghìn tin, bài viết đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đồng thời, chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý, bóc gỡ nhiều tin, bài viết, ảnh có nội dung phản cảm trên mạng internet. Lực lượng 47 của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã chủ động nghiên cứu nắm chắc âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, nắm chắc địa bàn; tích cực tổ chức đấu tranh với nhiều loại hình phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Nhiều cơ quan, đơn vị phát huy hiệu quả hoạt động của các trang, nhóm blog, kênh Youtube, tài khoản mạng xã hội… trong đấu tranh tư tưởng, lý luận trên không gian mạng. Hình thức đấu tranh chủ yếu là viết bài, xây dựng video clip phản bác lại các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch; bình luận, chia sẻ rộng rãi những bài viết có nội dung về đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, từ đó tạo hiệu ứng đấu tranh mạnh mẽ, tích cực trên không gian mạng. Với những thành tích đã đạt được, lực lượng 47 trong quân đội ngày càng khẳng địng rõ vai trò nòng cốt trong đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.

Trong thời gian tới, tình hình quốc tế và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen. Sau 35 năm đổi mới, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực và uy tín quốc tế như ngày nay. Tuy nhiên, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn, các thế lực thù địch, tổ chức phản động tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, cản trở sự phát triển của đất nước… Tình hình đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng 47 trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trải, thù địch, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Theo đó, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

1.Toàn quân tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tường của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; Chỉ thị số 47/CT-CT ngày 08/01/2016 của Tổng cục Chính trị về tổ chức lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội và các văn bản chỉ đạo của Trung ương, Quân đội, phù hợp với tình hình cũng như đặc điểm, nhiệm vụ hoạt động lực lượng 47.

2.Thường xuyên kiện toàn lực lượng 47 trong toàn quân, phù hợp với đặc thù nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị và địa bàn đóng quân. Phát huy tốt vai trò của các cơ quan báo chí, cơ quan nghiên cứu, nhóm chuyên gia trong viết bài đấu tranh chuyên sâu, tạo nguồn thông tin tích cực trên Internet, mạng xã hội. Tăng cường phối hợp giữa lực lượng 47 trong quân đội với cơ quan chức năng, địa phương để tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng

3.Các cơ quan chức năng của quân đội chủ động thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; kịp thời định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trước các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, làm cơ sở cho việc triển khai các hoạt động đấu tranh trên không gian mạng.

4.Thường xuyên duy trì, nâng cao hiệu quả hoạt động của các trang, nhóm, blog đã được thành lập. Chú trọng liên kết với các trang, nhóm, blog khác để tạo hiệu ứng lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng mạng xã hội. Quan tâm đầu tư với tận dụng phát huy nguồn lực đơn vị, bảo đảm cơ sở vật chất, trang bị, phương tiện kỹ thuật, kinh phí để phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.

DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRỞ THÀNH BIỂU TƯỢNG CỦA HẠNH PHÚC TOÀN CẦU

 Thứ nhất, lịch sử hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc khỏi ách xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975) bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam còn có các Đảng phái khác. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản, còn có hai đảng khác là Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mạng Đồng Minh Hội. Tuy nhiên, về thực chất lãnh đạo cách mạng Việt Nam vẫn chỉ có Đảng Cộng sản, còn hai đảng Việt Quốc và Việt Cách “theo đuôi Tưởng” không hề đứng về lợi ích dân tộc. Cho đến khi quân Tưởng rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng ra đi theo quân Tưởng, trên vũ đài chính trị chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Sau đó, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tồn tại hai đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Cả hai đảng này đều ủng hộ, thừa nhận vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sau này cũng tự nguyện giải tán. Như vậy, Việt Nam đã từng có chế độ đa đảng, nhưng chính lịch sử cách mạng và nhân dân Việt Nam đã phủ định. Vì thế, Điều 4, Hiến pháp năm 2013, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và cả xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Như vậy, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và toàn thể Nhân dân Việt Nam khẳng định, thừa nhận: “Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà không cần sự tồn tại của nhiều đảng, nhất thiết không cần và không thể chấp nhận đa đảng đối lập như các thế lực thù địch mong muốn”.

Thứ hai, thành tựu của sự nghiệp cách mạng sau gần 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định, Việt Nam đã đạt được những thành tựu vô cùng quan trọng và thật đáng tự hào trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh… được cộng đồng quốc tế ghi nhận, sức mạnh tổng hợp quốc gia tăng lên. Việt Nam được cả thế giới mến phục, coi là biểu tượng của sự ổn định chính trị, tinh thần chiến thắng đói nghèo, đề cao giá trị, nhân nghĩa trong thế kỷ XXI, chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Ngày 11/10/2022, với 145 phiếu ủng hộ, Việt Nam là một trong 14 thành viên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Điều đó, khẳng định uy tín và vị thế của Việt Nam trong thực hiện nhân quyền, bảo vệ nhân quyền không chỉ trong nước mà còn đối với cộng đồng quốc tế, được quốc tế khẳng định và thừa nhận. Theo Báo cáo Hạnh phúc Toàn cầu của Liên hợp quốc công bố, năm 2021 Việt Nam đứng thứ 79/149 trong bảng xếp hạng; năm 2022 Việt Nam đứng thứ 77/150 trong bảng xếp hạng, tăng 2 bậc so với năm 2021; năm 2023 Việt Nam đứng thứ 65/150 trong bảng xếp hạng, tăng 12 bậc so với năm 2022; năm 2024, Việt Nam đứng thứ 54/150, tăng 11 bậc so với năm 2023. Kết quả này, là sự thừa nhận của Liên hợp quốc, nên các thế lực thù địch không thể xuyên tạc. Vì vậy, cần khẳng định rằng, người dân Việt Nam ngày càng hạnh phúc, ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

 

Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành tựu đổi mới ở Việt Nam và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản ngày càng bộc lộ rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, đi ngược lại với Hiến pháp và nguyện vọng, lợi ích lâu dài, chính đáng của nhân dân Việt Nam. Mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn./.

ÂM MƯU THÂM ĐỘC CỦA KẺ PHẢN ĐỘNG SONG CHI

Lợi dụng các tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng để chống phá cách mạng là một trong những âm mưu, hoạt động thâm độc của các thế lực, thù địch, phản động. Bài viết: “Phật giáo Việt Nam và nguyên nhân gốc rễ của vấn đề” của Song Chi đăng trên “Bbc” là một trong số đó.

 

Lợi dụng việc một số chức sắc Phật giáo bị Giáo hội Phật giáo Việt Nam kỷ luật, như: Thích Chân Quang, Thích Trúc Thái Minh, Thích Nhuận Đức, Song Chi đã xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Việt Nam nói chung, Phật giáo nói riêng. Song Chi đã đánh đồng những người này với những tín đồ, chức sắc Phật giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”, vì họ đã “tích cực tham gia chính trị, hết lòng trung thành với đảng, với chế độ”. Từ đó, bài viết xuyên tạc Giáo hội Phật giáo Việt Nam “được nhà nước cộng sản lập ra để khống chế phật giáo trong nước, để đánh bóng bộ mặt nhà nước trên trường quốc tế” hay “phục vụ chế độ, phục vụ cho một số quan chức, chứ không phải để xiển dương đạo pháp đúng nghĩa”. Song Chi phiến diện cho rằng: “khi còn chế độ độc tài, khi chưa có tự do tôn giáo” thì tình trạng đó vẫn tiếp diễn, và đưa ra lời khuyên: “phải chấp nhận có những tổ chức Phật giáo khác nhau, nhiều hình thức tu khác nhau, chứ không phải bất cứ ai, tổ chức nào đứng bên ngoài hệ thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là ngăn cấm, đàn áp, tiêu diệt”. Thực chất của những luận điệu trên là xuyên tạc, hướng lái dư luận nhận thức sai lệch tự do tôn giáo ở Việt Nam. Thực tế đã bác bỏ những luận điệu trên.

Thứ nhất, những chức sắc Phật giáo bị kỷ luật vì họ đã vi phạm Hiến chương, giáo lý, giáo luật của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Bất kỳ tổ chức, dân tộc, quốc gia trên thế giới đều có luật lệ, pháp luật để quy định việc các tổ chức, cá nhân phải tuân thủ, thực hiện, nếu thành viên nào vi phạm đều bị tổ chức đó xử lý. Trong tôn giáo cũng vậy, mỗi một tôn giáo đều có giới luật, luật lệ riêng để quy định về những điều chức sắc, chức việc, tín đồ của mình được làm hay không được làm, qua đó khuyến khích con người làm lành, tránh dữ. Tại Điều 7, Chương II, Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam sửa đổi lần thứ VII tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IX năm 2023 ghi rõ: “Mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là hoằng dương Phật pháp, phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, phục vụ dân tộc, góp phần xây dựng hòa bình, an lạc cho thế giới”. Điều 11, Chương III cũng nhấn mạnh: “Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc lấy Đạo pháp làm mục tiêu tối thượng; Tăng Ni, Cư sĩ, Phật tử làm trung tâm; các thành viên tham gia tự nguyện, đoàn kết, hòa hợp, kính ngưỡng, phụng hành Giáo pháp, Giới luật và tuân thủ pháp luật Nhà nước”. Tại Khoản 2, Điều 82, Chương XIII quy định: “Thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam có hoạt động và hành vi làm tổn hại đến thanh danh, đến sự hòa hợp, đến quyền lợi của Giáo hội hoặc các thành viên của Giáo hội, phương hại đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đến hòa bình, độc lập, thống nhất của Tổ quốc, Giáo hội sẽ xử lý theo giáo luật và tùy mức độ vi phạm, Giáo hội sẽ đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, xử lý theo pháp luật”. Đối chiếu với các quy định trên, nếu chức sắc, tín đồ nào vi phạm, tùy theo mức độ mà sẽ bị tổ chức tôn giáo quản lý xử lý kỷ luật. Các chức sắc Phật giáo mà Song Chi đề cập trong bài viết đã vi phạm Hiến chương, giáo lý, giáo luật nên đã bị Giáo hội Phật giáo Việt Nam kỷ luật, chứ hoàn toàn không phải họ bị “ngăn cấm, đàn áp, tiêu diệt”.

 

Thứ hai, Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức duy nhất đại diện cho tăng ni, tín đồ phật tử Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước.

Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ những năm đầu Công nguyên. Trong quá trình du nhập và phát triển, Phật giáo đã chứng tỏ là một tôn giáo hòa bình, dung hợp với tín ngưỡng truyền thống của người Việt. Tinh thần Từ – Bi – Hỷ – Xả của Phật giáo đã giáo dục con người biết sống vị tha, hòa hợp, coi trọng bình đẳng và tiến bộ xã hội. Giáo lý của Phật giáo rất phù hợp với đạo đức xã hội ở Việt Nam. Phật giáo là môi trường hoặc tạo điều kiện cho các loại hình văn học, nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc… phát triển. Ở mỗi thời kỳ lịch sử, Phật giáo đều để lại những dấu ấn sâu đậm, thể hiện tinh thần gắn bó đồng hành cùng dân tộc, nhiều nhà sư đứng ra giúp đời, giúp nước được sử sách ghi nhận.

Tháng 11/1981, thể theo ý chí, nguyện vọng của tăng ni, tín đồ phật tử cả nước, Hội nghị Đại biểu Thống nhất Phật giáo đã được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội với sự tham dự của 168 đại biểu tăng ni, cư sĩ đại diện cho 9 tổ chức, hệ phái trong cả nước. Đại hội đã thống nhất thành lập một tổ chức chung của Phật giáo cả nước lấy tên là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam”, thông qua Hiến chương và đường hướng hoạt động “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”. Tuyệt đại đa số tăng ni đã tích cực góp phần xây dựng Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày một trưởng thành, khẳng định vị trí của mình trong lòng dân tộc. Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng nâng cao vị thế và uy tín thông qua việc mở rộng hoạt động giao lưu quốc tế, tích cực hỗ trợ hoạt động của Phật giáo Việt Nam ở nước ngoài, đăng cai và phối hợp tổ chức thành công 3 kì Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc VESAK tại Việt Nam (2008, 2014, 2019). Hoạt động từ thiện xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo, giảm bớt những khó khăn, gánh nặng cho cộng đồng, xã hội. Bên cạnh đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam còn tham gia nhiều hoạt động an sinh xã hội vì cộng đồng: xây cầu, đóng góp làm đường giao thông nông thôn, nuôi dưỡng và chăm sóc bệnh nhân nhiễm HIV – AIDS, hỗ trợ đồng bào bị thiên tai, dịch bệnh. Điều đó khẳng định những đóng góp xứng đáng của Phật giáo cho sự nghiệp cách mạng. Còn những tín đồ, chức sắc vi phạm Hiến chương, giáo lý, giáo luật chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”, chứ không phải là bản chất, “biến tướng, biến chất” của Giáo hội Phật giáo Việt Nam như Song Chi và đồng bọn xuyên tạc.

Như vậy, bài viết “Phật giáo Việt Nam và nguyên nhân gốc rễ của vấn đề” đã xuyên tạc, hướng lái dư luận nhận thức sai lệch về Phật giáo nói riêng, tự do tôn giáo ở Việt Nam nói chung. Chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác vạch trần và đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của chúng./.

HOẠT ĐỘNG TÍN NGƯỠNG VÀ HỘI ĐOÀN PHẢI TRONG VÒNG LUẬT PHÁP

 Vừa qua, tiếp tục lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, Vũ Hoàng Anh đã đăng bài viết: “Tín Ngưỡng & Hội Đoàn” trên trang “Quyenduocbiet”. Nội dung bài viết là những biện dẫn trái ngược quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo; cố tình kích động, đòi “tự do” hoạt động tín ngưỡng và hội đoàn ngoài vòng luật pháp. Bởi vậy, cần đấu tranh và khẳng định như sau:

Thứ nhất, ở mỗi quốc gia mọi hoạt động của các tổ chức xã hội trong đó có hoạt động tín ngưỡng, hội đoàn tôn giáo đều phải tuân thủ theo pháp luật. Làm việc theo hiến pháp và pháp luật là văn minh ở mỗi quốc gia. Các hoạt động tín ngưỡng, hội đoàn của tôn giáo cũng không ngoại lệ, nhất là các hoạt động đó không làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sự ổn định, phát triển xã hội. Công ước châu Âu, tại Điều 9 khẳng định: Quyền tự do thể hiện tôn giáo, tín ngưỡng của một người chỉ bị luật pháp giới hạn nếu điều đó là cần thiết trong một xã hội dân chủ, phục vụ an ninh công cộng, bảo vệ trật tự trị an, sức khỏe, chuẩn mực đạo đức chung hoặc các quyền và sự tự do của người khác.

 

Trên thực tế, ở bất cứ quốc gia nào, việc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động không đúng pháp luật, gây ảnh hưởng đến trật tự an ninh, ổn định xã hội, cản trở sự phát triển đất nước, ảnh hưởng đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác thì đều bị xử lý. Cảnh sát Mỹ vào năm 2012 đã bắt giữ 07 thành viên nhóm Hutaree (Hu-ta-ri) tự xưng là “chiến binh Thiên chúa giáo” vì có âm mưu chống lại chính quyền; Tòa án Tối cao Nhật Bản năm 2018 đã thi hành án tử hình đối với 06 thành viên giáo phái “Ngày tận thế” (Aum Shinrikyo) cùng thủ lĩnh là Giáo chủ Shoko Asahara do gây ra vụ tấn công bằng chất độc Sarin nhằm vào hệ thống tàu điện ngầm Tokyo và các tội ác khác. Điều đó cho thấy, luận điệu của Vũ Hoàng Anh cho rằng hoạt động tín ngưỡng, hội đoàn “Đi ngược lại chủ trương của đãng thì sẽ bị trù dập, bỏ tù” là không đúng, bởi vì: Ở Việt Nam, chỉ có những người, những hoạt động hội đoàn lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành các hoạt động vi phạm luật pháp mới bị xử lý.

Thứ hai, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn có chủ trương, chính sách và xử lý đúng đắn vấn đề tự do hoạt động tín ngưỡng, hội đoàn. Việt Nam không đưa ra giới hạn nào về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hiến pháp 2013 và Luật tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam đều khẳng định: Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Thực tiễn ở Việt Nam, các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, không bị phân biệt đối xử và chung sống đoàn kết, gắn bó đồng hành với dân tộc. Nhờ có sự quan tâm, tạo điều kiện của Đảng, Nhà nước Việt Nam nên đời sống tín ngưỡng, tôn giáo có nhiều biến đổi sâu sắc, các tôn giáo đều tăng về số lượng và quy mô hoạt động cả trong nước và quốc tế. Những thành tựu đó không chỉ nhân dân trong nước, trong đó có tín đồ các tôn giáo ghi nhận, mà còn được cả cộng đồng quốc tế thừa nhận. Do vậy, những nhận định “nhà cầm quyền csvn luôn luôn tìm đủ mọi cách để xâm nhập vào mọi tầng lớp sinh hoạt của người dân để kiểm soát, bắt bớ, đàn áp”; “cơ quan chính quyền tìm cách phá hoại, ngăn cản”; “Việt Nam không bao giờ có tự do tín ngưỡng” của Vũ Hoàng Anh là thiếu khách quan, không đúng với thực tế ở Việt Nam.

Như vậy, ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được bảo đảm trong thực tế, không có việc “đàn áp”, hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Mọi người, tổ chức xã hội trong đó có tổ chức tôn giáo sẽ mãi đồng hành với dân tộc, với Đảng, cùng chung tay phấn đấu đạt mục tiêu vì con người, dân chủ, công bằng, văn minh, vì sự phồn vinh của đất nước và đập tan những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tự do tín ngưỡng và hội đoàn cũng như tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam./.

LUẬN ĐIỆU CỦA KẺ CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

 Trong khi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang tập trung cao độ mọi sức lực cho nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, nhất là thực hiện công cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, Kết luận số 21-KL/TW và Quy định số 37-QĐ/TW. Theo đó đã có những tổ chức, cá nhân vi phạm buộc phải đưa ra xét xử theo pháp luật. Nhân cơ hội đó, những kẻ phản động, bất mãn, chống đối lợi dụng internet, mạng xã hội để phát tán những bài viết, phát ngôn xuyên tạc, sai sự thật hòng nói xấu Đảng, Nhà nước.  

Gần đây trên trang “Voatiengviet” có bài viết “Nhìn lại những xáo trộn trên thượng tầng Ba Đình: Việt Nam sẽ đi về đâu ?” của Bút danh Hoàng Trường. Bài viết cho rằng: “Trong vòng hơn một năm qua,… hàng tá các ủy viên Bộ Chính trị, các phó thủ tướng, bộ trưởng và nhiều quan chức cao cấp bị “ngã ngựa” dưới các hình thức khác nhau, tội danh khác nhau” là cuộc “thanh trừng nội bộ ở thượng tầng”…

Đây là bài viết thể hiện tính chất thù địch rõ ràng, lộng ngôn, cố tình xuyên tạc sai sự thật, lợi dụng kết quả xây dựng và chỉnh đốn Đảng để bôi nhọ, nói xấu Đảng, Nhà nước. Người xưa thường có câu “uốn ba tấc lưỡi” để chỉ những kẻ lộng ngôn, dùng lời nói để nịnh bợ, ve vãn hay bẻ cong một sự thật nào đó, thế nhưng với những ngôn từ mà Hoàng Trường sử dụng trong bài viết của Y, như: “Cuộc ngã giá”, “thanh trừng”, “múa gậy vườn hoang”, “phó thường dân dự khuyết”, “xây thành đắp lũy”… để xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu Đảng, Nhà nước thì Hoàng Trường phải là kẻ có “cái lưỡi dài sáu tấc” mới đủ sự xảo quyệt như vậy.

Y còn tùy tiện phán xét rằng: Việc Quốc Hội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Trung ương Đảng bầu vị trí Chủ tịch nước đối với nguyên Bộ trưởng Bộ Công an Đại tướng Tô Lâm vào vị trí Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và một số vị trí chủ chốt trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Nhà nước và các bộ, ngành là “Những cuộc ngã giá”. Thực chất, đây là sự hằn học, đố kị của những kẻ “thua cuộc” – Những kẻ “bán thân”, vuốt đuôi, những kẻ vong ân, bội nghĩa.

Trong bài viết, Hoàng Trường còn “ngạo mạn vạch ra các hướng đi cho Đảng, cho Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Y phân tích, hướng lái người đọc đi đến nhận định: Việt Nam cần cải cách chính trị, cần đa nguyên chính trị, thay thế thể chế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa… Âm mưu, mục đích sâu xa của Y và các thế lực phản động, cơ hội, thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò quản lý của Nhà nước… hướng lái dư luận đến với một thể chế chính trị mà chúng mong muốn.

Việt Nam không cần và cũng không đa nguyên, đa đảng, Bởi vì: ở Việt Nam, không có lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân suy tôn và có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi. Thứ hai, dân chủ và phát triển không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng và đa nguyên, đa đảng không đồng nghĩa với sẽ có dân chủ và phát triển.

Thứ ba, ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước ta luôn đề cao thực hành dân chủ, công bằng xã hội và vì lợi ích của người dân. Thứ tư, xã hội ổn định bền vững và sự tăng trưởng, an sinh xã hội được bảo đảm – đây là vấn đề cốt lõi của bất kỳ quốc gia nào. Với chế độ một đảng lãnh đạo, Việt Nam có điều kiện để giữ vững ổn định chính trị, được đánh giá là một trong những nước có sự ổn định chính trị cao trên thế giới.

Cũng chỉ cần là một công dân bình thường, như cách gọi “phó thường dân” của Hoàng Trường, chúng ta cũng dễ dàng nhận rõ âm mưu, mục đích sâu xa và thủ đoạn ẩn chứa trong những bài viết “dạng” như thế này. Với kiểu “khua môi, múa mép” để kiếm miếng cơm, manh áo từ những thế lực, những tổ chức, cá nhân chống đối, thù hằn, phản động trong và ngoài nước nhằm vào Đảng, Nhà nước, nhân dân ta. Bằng lòng tự hào dân tộc, sự tự tôn, tự trọng của con người Việt Nam chân chính, chúng ta cần phân biệt trắng đen, thật giả để kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, lộng ngôn, sai sự thật như kiểu của Hoàng Trường với những bài viết của Y để bảo vệ lẽ phải, cái đúng, bảo vệ sự thật, cũng là bảo vệ chính môi trường xã hội lành mạnh của chúng ta./.