Hiện nay đang
có nhiều quan điểm khác nhau trong quá trình cải tổ hệ thống doanh nghiệp quân
đội; trong đó, việc tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế luôn là chức năng,
nhiệm vụ hết sức quan trọng của Quân đội trong quá khứ, hiện tại và tương lai
nhưng lại là tâm điểm mà các thế lực thù địch tập trung chống phá. Chúng hô hào Quân đội không
được làm kinh tế mà chỉ đơn thuần tập trung vào nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chúng cho rằng nếu Quân đội tham gia hoạt động kinh
tế sẽ nảy sinh tham nhũng, lợi ích nhóm, đặc quyền, đặc lợi và làm suy yếu sức
mạnh Quân đội. Đây là âm mưu vô cùng thâm độc, phủ nhận vai trò của Quân đội
thực hiện chức năng lao động sản xuất, tham gia phát triển kinh tế chính là kế
thừa kế sách giữ nước của cha ông ta. Quốc sách “ngụ binh ư nông” (thời bình
thì người lính làm nông nghiệp, khi chiến tranh xảy ra tham gia chiến đấu giết
giặc) dưới các triều Lý, Trần, Lê sơ đã rất hiệu quả trong việc xây dựng sức
mạnh quốc phòng; theo đó, nhiều chính sách đã được thực thi như: khai hoang lập
ấp ở những nơi xung yếu để phục binh sẵn, phá thế giặc từ xa; phát triển các
ngành nghề sản xuất để vừa làm ra các công cụ lao động, vừa làm ra các loại vũ
khí, phương tiện phục vụ toàn dân đánh giặc; mở mang đường sá, đào sông ngòi,
kênh rạch, xây đắp đê kè để vừa phát triển kinh tế, vừa tạo thế trận đánh giặc,
cơ động lực lượng vũ trang trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Theo Bách khoa toàn thư mở
Wikipedia: việc quân đội làm kinh tế được thực hiện tại nhiều quốc gia như:
Trung Quốc, Indonesia, Pakistan, Ecuador, Honduras, Peru, Ai Cập, Myanmar, Hoa
Kỳ, Pháp, ... và đây là hiện tượng phổ biến có từ rất lâu trong lịch sử thế giới. Ở
Việt Nam: ngay từ khi thành lập Quân đội ta, Bác Hồ đã dạy: “Quân đội ta là đội quân chiến đấu, đội
quân công tác và đội quân lao động sản xuất”. Theo đó, Quân đội ta có vai trò
xung kích, nòng cốt trong tham gia xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã
hội gắn với xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân trên các địa bàn
chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, đảo, với trọng tâm là triển
khai xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng nhằm tạo điều kiện phát triển bền
vững cho hàng nghìn hộ dân định cư sinh sống lâu dài, hình thành thế bố trí chiến
lược mới trên các địa bàn chiến lược, trọng yếu về quốc phòng, an ninh. Doanh
nghiệp quân đội ngoài phục vụ các mục tiêu quân sự còn phục vụ nhu cầu dân sự,
tiến hành đầu tư trong và ngoài nước. Quân đội sản xuất xây dựng kinh tế nhằm
góp phần gìn giữ năng lực sản xuất quốc phòng, nâng cao năng lực chiến đấu cho
Quân đội và góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách quốc phòng. Trong thời kỳ hội
nhập quốc tế, các doanh nghiệp quân đội là một bộ phận trong chiến lược
"hướng ra biển lớn" của Việt Nam. Chủ trương Quân đội tham gia sản
xuất, xây dựng kinh tế phải được hiểu đầy đủ là kinh tế quốc phòng, phục vụ
nhiệm vụ quốc phòng và tham gia phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Mỗi thời
kỳ có hình thức khác nhau, mô hình khác nhau, mức độ khác nhau tùy theo phát triển
kinh tế - xã hội, tình hình đất nước. Gắn kinh tế với quốc phòng, quốc phòng
với kinh tế là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và
Bộ Quốc phòng. Phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp xây dựng kinh tế phối hợp
quốc phòng là một trong những chức năng nhiệm vụ quan trọng của Quân đội. Quân
đội làm kinh tế là củng cố, gia tăng tiềm lực quốc gia, trang bị vũ khí, khí
tài quân đội, tham gia hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao vị thế kinh tế với
bên ngoài. Quan điểm sẽ xuyên suốt trong các thời kỳ là nhiệm vụ xây dựng phát
triển kinh tế đã, đang và sẽ có sự tham gia của doanh nghiệp quân đội; đồng
thời, điều chỉnh bổ sung các khu kinh tế quốc phòng để phù hợp thế trận an ninh
vững chắc trên các địa bàn. Hiện nay, Quân đội ta tham gia sản xuất, xây dựng
kinh tế nhằm những nội dung chủ yếu sau đây:
Một là, sản
xuất trực tiếp ra các sản phẩm quốc phòng, vũ khí trang bị, đạn, súng, thuốc
nổ, những thứ mà quân đội nào cũng phải có.
Hai là, xây dựng và
phát triển các đoàn kinh tế - quốc phòng ở vùng biên giới. Kinh nghiệm lịch sử
cho thấy tại biên giới, Quân đội vừa là lực lượng tham gia sản xuất, vừa là lực
lượng phòng thủ biên giới, đặc biệt khi người dân đi sơ tán lúc chiến sự nổ ra;
đồng thời, Quân đội cũng là lực lượng tham gia xây dựng các công trình khó khăn
mà lực lượng dân sự không làm được.
Ba là, doanh nghiệp
quân đội là những doanh nghiệp đi đầu về khoa học công nghệ, lấy phát triển
khoa học công nghệ để áp dụng sản xuất vũ khí, trang bị của quân đội, những
doanh nghiệp đó đóng góp rất nhiều vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Việc áp dụng nền công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng là điều phổ biến trên
thế giới. Theo đó, trong thời chiến, hệ thống sản xuất của quân đội sẽ phục vụ
nhiệm vụ chiến đấu; trong thời bình, với tiềm lực khoa học - công nghệ trong
tay, quân đội sẽ áp dụng các khoa học - công nghệ đó phục vụ các đời sống dân sự
của nhân dân cũng như tận dụng năng lực của máy móc thiết bị để nâng cao tay
nghề, duy trì lực lượng lao động, xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật. Ý
nghĩa của sự lưỡng dụng đó còn bao hàm việc sản xuất các sản phẩm dựa trên sự
điều tiết theo cơ chế thị trường, có sản phẩm mới, nhu cầu mới.
Tham gia sản xuất, xây
dựng kinh tế là một chức năng, nhiệm vụ chính trị quan trọng, có ý nghĩa chiến
lược lâu dài, thể hiện bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội
Nhân dân Việt Nam. Đất nước ta có đường biên giới trên bộ khoảng 4.500 km,
đường bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng biển rộng lớn với nhiều đảo, quần đảo.
Đời sống của nhân dân nhiều vùng còn lạc hậu khó khăn, nhiều nơi trắng dân, trắng
chính quyền, trắng đảng viên. Vì thế, cần có Quân đội đứng chân với nhiệm vụ
đưa dân ra sinh sống, giúp dân khai hoang, phát triển kinh tế địa phương, tạo nên
thế trận lòng dân, vận động nhân dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Khi làm kinh tế,
Quân đội sẽ phải gánh vác những nhiệm vụ chính trị xã hội mà không ai có thể
làm được, thậm chí cả doanh nghiệp nhà nước cũng khó đảm đương. Việc gắn phát
triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng không phải là điều mới mà là
việc làm cần thiết, thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình dựng nước và giữ
nước bởi thông qua đó để gia tăng sức mạnh của Quân đội, đặc biệt là sức mạnh tổng
lực của Quốc gia đồng thời góp phần tạo nên sự độc lập, tự chủ, đặc biệt là
trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, giảm bớt sự lệ thuộc vào việc mua sắm từ
nước ngoài, qua đó từng bước nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Trong sản xuất
và phát triển kinh tế, Quân đội đã để lại những dấu ấn không thể phủ nhận, kể cả
trong chiến đấu, trong thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh và trong thời kỳ
đổi mới. Với cơ sở hạ tầng được trang bị tương đối đồng bộ, với đội ngũ cán bộ,
kỹ sư, nhân viên kỹ thuật có trình độ chuyên môn tốt, trách nhiệm và tính kỷ luật
cao, các sản phẩm của quốc phòng không chỉ đáp ứng được nhu cầu của Quân đội và
phục vụ hiệu quả cho đời sống nhân dân. Hiện nay, chủ trương tái cấu trúc lại
doanh nghiệp nhà nước nhằm thực hiện hiệu quả vai trò chủ đạo của kinh tế nhà
nước, nhằm hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chứ
không có nghĩa là Quân đội không tham gia phát triển kinh tế, mà Quân đội ngày
càng phải làm tốt hơn nhiệm vụ này, đem sức mạnh của khoa học công nghệ để nâng
cao năng suất, chất lượng tăng trưởng.
Trong các cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trước đây, mặc dù không phủ nhận sự viện trợ chí
nghĩa, chí tình của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, song có thể khẳng định
rằng, Quân đội ta vẫn tự lực về hậu cần là chính. Chủ trương đẩy mạnh tăng gia,
sản xuất, tự túc lương thực thực phẩm đã giúp bộ đội ta vượt qua được những
giai đoạn rất khó khăn về hậu cần. Mặt khác, Đảng ta chủ trương xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế,
nhiều hình thức sở hữu, kinh doanh; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng -
an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế. Luận điệu xóa bỏ chức năng, nhiệm vụ
tham gia phát triển kinh tế của Quân đội thực chất là âm mưu xóa bỏ vai trò
kinh tế Nhà nước - thành phần chủ đạo của nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Trong khi đó, bản chất các hoạt động sản xuất, phát triển kinh
tế của Quân đội là thuộc sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, là kinh tế Nhà nước.
Vì vậy, Quân đội tham gia phát triển kinh tế là một tất yếu khách quan, đúng
pháp luật, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta và cũng là
để thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ “Quân đội ta là
đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất” như lời Bác Hồ đã dạy ngay từ ngày đầu thành lập./.